THỊ XÃ HÀ TIÊN
  • THỊ XÃ HÀ TIÊN

  • Mã tour:
  • Thời gian:
  • Giá tour: Liên hệ | Phương tiện:
  • Khởi hành: | Lịch trình: THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM
  • Được tổ chức bởi: GIÀ LÀNG VIỆT

Gọi 0983997943 chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn

 
 
 
 
HÀ TIÊN
  * Vùng đất Hà Tiên xưa
- Được khai mở vào đầu thế kỉ thứ 18, Hà Tiên từ lâu đã nổi tiếng có nhiều thắng cảnh đẹp, thu hút nhiều lượt khách tham quan. Không ai nhớ chính xác tên gọi này có từ bao giờ. Chỉ biết Hà Tiên xưa kia thuộc vùng đất Mang Khảm (tục danh Trấn Phiên thành, còn gọi là Đồng Trụ trấn). Tương truyền rằng, ngày xưa vì mến cảnh trần gian nơi đây có nhiều cảnh đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường xuất hiện, vậy là có tên Hà Tiên.
- Năm 1679, Mạc Cửu (quê quán Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) vì bất mãn với chế độ nhà Thanh, lưu lạc đến vùng đất Hà Tiên, chiêu tập lưu dân lập nên xứ Hà Tiên. Năm Hiển Tông đời thứ 7, nghe lời mưu sĩ Tô Quân cùng các thuộc hạ Trường Cầu, Lý Xá dâng biểu cầu thân với nhà Nguyễn. Kể từ ngày đó, Hà Tiên trở thành mảnh đất cuối cùng của đất Việt về hướng Tây Nam.
- Vào thế kỉ 18, Hà Tiên là một thị trấn buôn bán sầm uất, một hải cảng luôn có mặt các tàu buôn phương Tây và các nước Nam Á, trong hải trình từ Tây sang Đông và ngược lại. Những tàu này thường xuyên cập bến, những hiệu buôn của người Hoa lẫn người Việt lần lượt mọc lên, buôn bán nhộn nhịp. Quán xá, hiệu ăn và các cửa hàng mỹ nghệ bày bán mời gọi mọi người. Bãi biển quanh năm đông người. Những lưu dân từ các tỉnh miền ngoài lũ lượt đi thuyền, vượt sóng gió vào Nam, tới đây vừa buôn bán, vừa đánh bắt hải sản mà cũng để giao lưu với người nước ngoài. Một nền văn hóa, thi ca một thời phát đạt, cực thịnh, còn lưu lại tiếng tăm của một thi đàn luôn luôn quyến rũ tao nhân mặc khách từ nhiều địa phương tới ngâm vịnh, ngoạn cảnh.
- Trong lời tựa tập Hà Tiên thập vịnh, Mạc Thiên Tích đã viết: "Trấn Hà Tiên nước An Nam, xưa là đất hoang, từ tiên quân khai sáng đến nay đã hơn 30 năm, mà dân mới được ở yên, hơi biết việc trồng trọt".
- Tuy nhiên công lao khai phá Hà Tiên thuộc về hai cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, biến Hà Tiên thành nơi sầm uất. Mạc Cửu là người Quảng Đông (Trung Quốc), di cư đến sau khi nhà Minh bị tiêu diệt hoàn toàn năm 1645. Vua Cao Miên đã phong cho Mạc Cửu chức Oknha (Ốc nha) để cai quản vùng đất này. Tuy nhiên, do bị quân Xiêm La thường xuyên quấy nhiễu mà Cao Miên không đủ sức mạnh quân sự để bảo vệ. Gia quyến Mạc Cửu đã bị quân Xiêm bắt đem về nước họ. Mạc Cửu trốn thoát về Trũng Kè, sau lại về Mang Khảm khôi phục sản xuất. Mạc Cửu đã thân đến Phú Xuân dâng biểu xin đem 7 xã mà mình khai phá quy phục Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn ưng thuận, lệnh đổi tên đất Mang Khảm thành trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu làm Tổng binh coi giữ.
- Năm 1774, Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Đàng trong thành 12 dinh, nhưng vẫn để lại trấn Hà Tiên, phong Mạc Thiên Tích làm Đô đốc cai trị.
* Tỉnh Hà Tiên thời nhà Nguyễn
- Năm 1832 vua Minh Mạng đặt ra tỉnh Hà Tiên (một trong 6 tỉnh Nam Kỳ), gồm 1 phủ là An Biên thống lĩnh 3 huyện: Hà Châu, Long Xuyên (sau này là địa bàn tỉnh Long Xuyên) và Kiên Giang (sau này là địa bàn tỉnh Rạch Giá).
* Hà Tiên thời Pháp thuộc
- Ngày 24 tháng 6 năm 1867, tỉnh thành Hà Tiên bị thực dân Pháp chiếm. Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, mỗi khu vực hành chính lại chia nhỏ thành các tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement administratif) thì tỉnh Hà Tiên cũ bị chia thành 2 hạt tham biện là Hà Tiên và Rạch Giá và hạt tham biện Hà Tiên (đất huyện Hà Châu của tỉnh Hà Tiên cũ) thuộc khu vực Bát Xắc (Bassac).
- Từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 hạt tham biện Hà Tiên trở thành tỉnh theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tên tất cả các hạt tham biện thành tỉnh. Năm 1903, đảo Phú Quốc được đặt dưới quyền của đại diện chủ tỉnh Hà Tiên. Tỉnh lị là tỉnh thành Hà Tiên.   Từ năm 1913 đến năm 1924, tỉnh Hà Tiên được đặt dưới quyền chủ tỉnh Châu Đốc. Năm 1921, tỉnh Hà Tiên gồm 4 quận: Châu Thành (tỉnh lị), Giang Thành, Hòn Chông và Phú Quốc. Ngày 9 tháng 2 năm 1924, Hà Tiên lại trở thành một tỉnh độc lập.
* Hà Tiên thời Việt Nam Cộng Hòa
- Thời Việt Nam Cộng Hòa, Hà Tiên chỉ là 1 trong số 7 quận của tỉnh Kiên Giang. Quận Hà Tiên gồm 3 xã Mỹ Đức, Phú Mỹ và Thuận Yên, 15 ấp. Nhưng trên các bản đồ Việt Nam do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xuất bản, vẫn ghi hai tỉnh riêng biệt là Hà Tiên và Rạch Giá.
* Sau năm 1975
- Đầu năm 1976, tỉnh Kiên Giang được thành lập. Địa bàn tỉnh Hà Tiên cũ nay là huyện Kiên Lương và thị xã Hà Tiên.
* Hà Tiên ngày nay
- Còn bây giờ khi đến vùng đất này mới thấy Hà Tiên không ra dáng vẻ của một đô thị như trong suy nghĩ của mọi người: không nhà cao tầng, không tiếng còi xe rầm rập suốt ngày, không ồn ào xô bồ... Nơi đây thật lặng lẽ, yên bình như một làng quê xưa với nét uy nghiêm của những chứng tích lịch sử cùng nét hoang sơ của những tạo tác mà thiên nhiên đã ban tặng cho mảnh đất này. Những mái ngói cổ rêu phong nghiêng nghiêng trong nắng chiều, trong cái gió hanh hao mang theo vị mặn của biển đã tạo nét riêng cho xứ sở Hà Tiên.
- Đã đến Hà Tiên không thể nào không ghé thăm từ đường của dòng họ Mạc được khởi đầu từ Tổng binh Mạc Cửu. Khi ông qua đời, nhà Nguyễn đã phong tặng tước hiệu Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ Nghị công. Những bậc thang đá đưa du khách viếng thăm nơi an nghỉ của những người đã có công khai phá xứ Hà Tiên hơn 300 năm trước. Mạc Cửu giỏi tài dụng binh, Mạc Thiên Tích giỏi văn, người có công lập ra tao đàn Chiêu Anh Các để mỗi mùa trăng tròn ngắm trăng làm thơ tại Bảo nguyệt liên trì (đối diện đền thờ Mạc Công)... Hà Tiên có Thạch Động còn gọi là Vân Sơn. Chẳng biết tự bao giờ mà người dân Hà Tiên tự hào: Thạch động chính là nơi khởi nguồn của câu chuyện cổ tích Thạch Sanh chém chằn thấm sâu trong ký ức tuổi thơ. Vào sâu trong Thạch Động, thạch nhũ lâu ngày đã tạo những hình thù: con chằn, một cô gái tóc dài mà dân gian quen gọi là Phật Bà Quan Âm... Trí tưởng tượng con người được dịp bay bổng. Từ đây, đi bộ thêm vài bước chân là tới cửa khẩu Xà Xía, bên kia là đất nước Chùa Tháp.
- Còn nhiều lắm những di tích, thắng cảnh của xứ Hà Tiên: đình Nguyễn Trung Trực, mộ Bà lớn tướng Lê Kim Định, đền Phó Cơ Điều, Sắc tứ Tam bảo tự, chùa Phù Dung (còn gọi là am Phù Cừ)... mà người dân tự hào là Hà Tiên thập cảnh. Có thể nói vùng đất Hà Tiên hội tụ được hầu hết dáng vẻ của nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước. Hãy đến Hà Tiên một lần để hiểu và yêu hơn mảnh đất đầu sóng ngọn gió.
Hà Tiên thập vịnh
" Mười cảnh Hà Tiên rất hữu tình
Non non nước nước gẫm nên xinh
Đông Hồ, Lộc Trĩ luôn dòng chảy
Nam Phố, Lư Khê một mạch xanh
Tiêu Tự, Giang Thành uông trống ỏi
Châu Nham, Kim Dự cá chim doanh
Bình San, Thạch Động là rường cột
Sừng sững muôn năm vẫn để dành"
- Được người xưa gọi là thập cảnh thiên phú với những cái tên tứ âm rất tuyệt là Hà Tiên thập vịnh do Tổng trấn Mạc Thiên Tích đề xướng từ năm Bính Thìn 1736: Đông Hồ Ánh Nguyệt, Bình San Điệp Thúy, Thạch Động Thôn Vân, Lộc Trĩ Thôn Cư, Kim Dự Lan Đào, Tiêu Tự Thần Chung, Châu Nham Lạc Lộ, Giang Thành Dạ Cổ, Lư Khê Ngự Bạc, Nam Phố Trừng Ba.
- Mười bài thơ ca ngợi cảnh đẹp được thiên nhiên ban tặng, mỗi nơi có một sắc thái riêng biệt, nơi nào cũng đáng được khám phá, chiêm ngưỡng, nếu bỏ sót một nơi là xem như ta chưa đến Hà Tiên.
- Bình San điệp thúy - một trong mười cảnh đẹp nhất của Hà Tiên, đứng trên núi Bình San, Hà Tiên hiện ra trong nắng sớm ban mai hoặc trong buổi chiều tà, lúc nào cũng thơ mộng, một bên là núi Voi Phục, bên kia là biển Đông mênh mông, màn nước trong xanh đến tận chân trời, càng tôn thêm vẻ đẹp của Hà Tiên mà không nơi nào có được.
- Thạch động thôn vân, chính là nơi khơi nguồn câu chuyện cổ tích Thạch Sanh chém chằn, vào sâu trong Thạch Động chiêm ngưỡng nét đẹp của thạch nhũ như nét cọ vẽ của thiên nhiên, với những hình thù khơi gợi trí tưởng tượng của con người, tạo cho Thạch động một vẻ huyền hoặc. Từ đây, đi ngược về hướng Tây khoảng 3km tới cửa khẩu Xà Xía, nơi giao lưu buôn bán khá sầm uất của cư dân người Việt và bên kia là cư dân đất nước chùa tháp. Xuôi về hướng nam, dọc theo phía biển là thắng cảnh nổi tiếng Hòn Chông ngắm nhìn hòn Phụ Tử ngày đêm sóng vỗ, thăm di tích Chùa Hang và chỉ cần mươi phút bồng bềnh trên sóng là đến hang Gia Long, ngắm cảnh sắc và hít thở không khí trong lành, vị mặn của biển và cảm nhận sự yên tĩnh trầm mặc của thời gian.
- Đã đến Hà Tiên, muốn hiểu thêm lịch sử khai mở vùng đất này, không thể nào quên viếng thăm từ đường dòng họ Mạc, khởi đầu từ Tổng binh Mạc Cửu. Khi ông qua đời, nhà Nguyễn đã phong tước hiệu Khai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vũ Nghị công, thăm nơi yên nghỉ của những người đã có công khai phá đất Hà Tiên hơn 300 năm trước. Mạc Cửu giỏi tài dụng binh, Mạc Thiên Tích giỏi văn thơ, người đã có công lập ra tao đàn Chiêu Anh Các để mỗi tuần trăng tròn, ngắm trăng làm thơ tại Bảo nguyệt liên trì.
- Thăm đình Nguyễn Trung Trực, mộ Bà lớn tướng Lê Kim Định, đền Phó Cơ Điều, sắc tứ Tam Bảo tự, chùa Phù Dung... niềm tự hào không chỉ của cư dân Hà Tiên, mà đó còn là niềm tự hào của bao thế hệ người Việt Nam, chung sức chung lòng vì một Hà Tiên không ngừng phát triển.
- Ngày nay, Hà Tiên đang khoác lên mình một màu áo mới, kết cấu hạ tầng đang được đầu tư hoàn chỉnh để khai thác tiềm năng của vùng đất được thiên nhiên ưu đãi nhiều mặt. Đặc biệt là sự đầu tư để phát triển du lịch, dịch vụ một thế mạnh có một không hai ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thời điểm này, đến Hà Tiên ta sẽ thấy được sự thay đổi đến diệu kỳ, ngày xưa khai hoang mở đất, thì ngày nay Hà Tiên đang có những dự án lấn biển ngoạn mục, xây dựng lên những đô thị hiện đại mà cảnh quan thiên nhiên vẫn được bảo tồn nghiêm ngặt, giá trị văn hóa lịch sử ngày càng được nâng lên với nhiều lễ hội độc đáo, nhằm tưởng nhớ công lao và giáo dục truyền thống yêu nước của bao thế hệ “công thần lập quốc”... Vì một Hà Tiên phát triển bền vững trong tương lai.
* Núi Tô Châu
- Tô Châu là tên một dãy núi nằm ở phía Tây thắng cảnh Đông Hồ, thuộc phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Tô Châu bao gồm hai ngọn là Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu. Tuy không phải là một trong 10 cảnh đẹp của Hà Tiên, nhưng núi Tô Châu vẫn mang một nét đẹp riêng không lẫn vào đâu được, và chính nó cũng tô điểm một phần cho thắng cảnh Đông Hồ.Trên đỉnh Tiểu Tô Châu có rất nhiều chùa chiền, tịnh xá nằm ẩn mình dưới vườn cây trái xum xuê, rợp bóng. Từ trên đỉnh núi này, có thể nhìn thấy toàn cảnh Hà Tiên trập trùng giữa biển trời mây nước. Dưới chân núi là bến đò Tô Châu, đi qua trung tâm thị xã. Cảnh tượng này gợi người ta liên tưởng tới bến nước Tô Châu ở Trung Hoa. Ngày nay, bến đò này đã được thay bằng cầu nổi Hà Tiên và cầu đúc Tô Châu kiên cố.
* Cầu Tô Châu:
- Khởi công:  15/6/2000
- Khánh thành:  25/9/2002
* Hà Tiên
- Tà Ten là một ấp cư dân cổ ở hướng Đông Bắc thị xã Hà Tiên, nằm bên bờ trái sông Giang Thành. Khi xưa, người Khmer gọi sông này là Tà Ten (sau là Prêk Ten). Tà có nghĩa là sông, Ten là tên sông. Về sau chữ Tà được đổi là Hà và Ten được biến thành Tiên. Sách Nghiên cứu Hà Tiên viết: Cách giải thích cũ “nơi đây xưa kia có tiên hiện xuống đi lại trên sông, nên gọi là Hà Tiên” là không có căn cứ và thiếu khoa học.
* Phương Thành
- Là một tên gọi của Hà Tiên xưa. Vương Hồng Sển giải thích: Xưng Hà Tiên là Phương Thành là vì đắp lũy tre giáp vòng để chống quân Xiêm, Miên. Đồng ý kiến này có Trần Thiêm Trung, trong Hà Tiên địa phương chí (1957) ông viết: “Tại trấn lỵ, một thành vuông, đặt tên Phương Thành, chung quanh bao bọc chiến lũy, trồng tre gai, vì thế còn có tên chung là Trúc Bàn Thành" Nhưng vì đâu có cái tên Phương Thành, sách Nghiên cứu Hà Tiên của Trương Minh Đạt, giải thích: "Ở Hà Tiên có núi Bà Lý (Pang Li), cao 30m, người Hoa đọc chệch là Pang-Lũy, rồi nó trở thành Pang Thành, rồi Việt hóa thành Phương Thành" .
* Núi Bình San – Lăng Mạc Cửu
- Đi thẳng đường Mạc Cửu khoảng 200m là Núi Lăng, còn gọi là Bình San. Ngọn núi theo phong thủy như cái bình phong che chở cho thị xã. Ao sen ở chân núi do Mạc Thiên Tích (con Mạc Cửu) cho đào.
- Điện thờ do triều Nguyễn xây, gọi là Trung Nghĩa Từ. Chánh điện thờ: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, hai bên thờ bài vị các quan và các phu nhân.
- Trên núi hiện còn 45 ngôi mộ của dòng họ Mạc. Lớn nhất và cao nhất là mộ Mạc Cửu. Mộ xây theo kiểu người Hoa, trước mộ mỗi bên có đầu rồng, sư tử, quan hầu. Đứng ở mộ Mạc Cửu ta có thể ngắm nhìn toàn cảnh Hà Tiên.
* Cô Năm Hà Tiên
- Con gái thứ năm của Mạc Cửu là Mạc My Cô, mới sinh tóc dài cả thước, 3 tuổi răng đã mọc đủ, ăn nói khôn ngoan. Chỉ có bị liệt phải nằm một chỗ. Trong nhà cho là điềm xấu, đem chôn sống. Cô rất linh thiêng, bài vị thờ Mạc My Cô trong điện thờ trông ra cửa phụ bên trái (ngoài đường nhìn vào). Những kẻ gian tà qua cổng này đều bị Cô Năm vật chết. Dân trong vùng sợ hãi nên mới xin xây bít cửa này lại.
* Phù Dung:
- Tên Phù Dung Vạn Sơn được đặt cho quần thể núi non ở Hà Tiên, chính là do tên gọi Phù Youn. Người Xiêm gọi “phù” là núi. Tất cả người Xiêm, Khmer, Chăm, Lào đều gọi người việt là “Youn” hay “Duôn” (tiếng Phạn có nghĩa là người man di ở hang động). Tên Phù Youn được người Hoa phiên âm thành Phù Dung. Như vậy “Phù Youn” có nghĩa là vùng núi của người Việt.
- Chùa Phù Dung nằm trên đường Phương Thành, cách chùa tam Bảo khoảng trăm mét. Chùa nhỏ, với tượng Ngọc Hoàng.
- Mạc Thiên Tích có người vợ lẽ là Nguyễn Thị Xuân, tên hiệu là Phù Cừ. Bà xinh đẹp, lại giỏi thơ văn, đuợc Mạc Thiên Tích rất yêu mến. Cũng vì vậy mà bị bà vợ chính ghen ghét, đem trói nhốt vào lu nước chờ chết. May gặp lúc trời sắp mưa, Mạc Thiên Tích sai mở lu hứng nước, tình cờ cứu được. Quá chán ngán và sợ hãi, bà xin đi tu. Ngôi chùa này được Mạc Thiên Tích lập nên dành cho bà. Sau chùa vẫn còn phần mộ dành cho bà, gọi là mộ bà Dì Tự
* Chùa Sắc Tứ Tam Bảo
- Số 328 đường Phương Thành (kế hông nhà thờ). Đây là ngôi chùa cổ được xây dựng cùng thời với Trấn Hà Tiên. Khi Mạc Cửu đã thành danh, cho đón mẹ từ Trung Quốc sang cư ngụ ở chùa này. Tượng Phật Di Đà bằng đồng trên chánh điện có từ thời Mạc Cửu
* Mũi Nai
- Xa xưa, gọi là Mũi Nạy, vì nơi đó có núi Pù Nạy mà người khmer nói trại là P’Nay hay Bà Nay. Lớp người Việt đến sau bắt chước đọc âm này thành Nai. Đến thời Mạc Thiên Tứ, nhóm người Hoa dịch chữ Nai ra chữ Hán là Lộc (Lộc Trĩ sơn, Lộc trĩ thôn cư)…
- Nếu có dịp ghé thăm Hà Tiên, không đến Mũi Nai là có phần thiếu sót. Cát biển Mũi Nai nâu sậm, khi những làn sóng chồm lên, quyện vào, một màu đen nhánh hiện ra, thật lạ lùng. Theo người dân địa phương, màu đen này là do cát biển nơi đây chứa rất nhiều bùn. Mà bùn lại là một chất dưỡng da tuyệt hảo. Một ngày nằm đắp cát bùn trên bãi biển sẽ giúp bạn có một làn da rám nắng rất rắn rỏi. Biển Mũi Nai thoai thoải, khá nông nên rất an toàn khi tắm.
- Khu du lịch Mũi Nai đã xây dựng một công viên nước mini ngay sát biển dành cho trẻ em, các bé có thể tha hồ nghịch sóng, chơi cát, trượt nước mà phụ huynh chẳng phải lo ngại gì cả. Mũi Nai còn tự hào về vấn đề an ninh. Các gánh hàng rong, bán vé số hay những người ăn mày không được phép vào khuôn viên bãi tắm. Hành lý, tư trang của khách luôn được an toàn, là yếu tố quan trọng giúp bạn yên tâm khi tắm biển.
- Cạnh bãi tắm là một cái “chợ” nhỏ, bán đủ sản vật biển tươi sống. Nhưng du khách có kinh nghiệm thường thích ngồi chờ đến chiều, khi các ghe đánh cá trở về. Nào cá, tôm, mực, sò, không nhiều lắm, nhưng rất rẻ và rất ngon. Thưởng thức hải sản xong, bạn uống ly nước thốt nốt ngọt và thơm, thật tuyệt vời! Vắng và tự nhiên là một nét riêng, quyến rũ những ai muốn về với Mũi Nai. Nhưng muốn tận hưởng cảm giác lãng mạn của biển, bạn nên chờ đến buổi chiều. Cứ ngồi xoải chân trên cát, im lặng nghe tiếng lao xao của gió vờn trên sóng, của bầy hải âu chao lượn cuối trời mới thấy hết thi vị của biển. Rồi hoàng hôn xuống dần, đỏ ối một vùng trời.
- Thông thường, vùng biển thì không giàu có về các loại cây ăn trái. Hà Tiên cũng thế. Nhưng bù lại, “hàng xóm” của vùng đất này lại là một vùng trù phú bạt ngàn cây ăn trái. Mùa nào thức ấy, Mũi Nai tuyển chọn cho những vị khách quý của mình các loại trái cây ngon nhất. Bạn có thể chọn hoa quả trong những chiếc xe đẩy ngay khu “chợ” nhỏ, hoặc gọi các loại trái cây đã được cắt gọt và ướp lạnh sẵn để dùng ngay. Một lời khuyên chân tình cho những ai “hảo” sầu riêng: “Hãy ăn bằng bàn tay vừa nghịch nước biển”. Một chút mằn mặn của muối biển lan nhẹ vào cái ngọt, cái bùi của thứ trái vỏ đầy gai này sẽ tạo nên một hương vị là lạ khó quên.
-  Vùng biển Hà Tiên còn sở hữu một món quà mà ai cũng phải nhớ: huyền và đồi mồi. Một chiếc lược đồi mồi nho nhỏ cẩn hai bông hoa cúc bằng xà cừ óng ánh, một cây thoa cong cong hay đơn giản là một chiếc nhẫn bé tẹo là những món quà xinh xắn, độc đáo mà bạn sẽ gây bất ngờ cho người thân khi trở về.
* Mang Khảm
- Mang là phiên âm Hán - Việt của Mường (tiếng Mường- Thái). Về chữ Mang, Trịnh Hoài Đức giải thích: “Những chỗ người Bắc địch tụ hội, chỗ lớn gọi là Bộ, chỗ lớn gọi là Bộ, chỗ nhỏ gọi là Lạc; người Xiêm, lào đều gọi là Mang, người Khmer gọi là Súc."Khảm, người Khmer nói là Krom, tiếng Mã Lai gọi là Kram, tiếng Nôm gọi là Hỏm hay Tràm có nghĩa thấp, ngập. Cho nên Mang Khảm (tức trấn Hà Tiên) có nghĩa là “xóm dân vùng nước ngập”. Theo Nghiên cứu Hà Tiên, “bởi khởi đầu bằng chữ Mang, đơn vị dân cư theo ngôn ngữ Mường – Thái, nên có thêm một lý do nữa để xác định rằng đây không phải là đất Chân Lạp. Người Chân Lạp (Khmer) chỉ dùng chữ Srock (hay Súc) hoặc Phum. 
* Thạch Động
- Từ Trung tâm thị xã Hà Tiên theo quốc lộ 80 đi về hướng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia độ 3km, du khách đã trông thấy một khối đá vôi khổng lồ cao chừng 50m, đứng sừng sững trên một vùng đất trống chẳng khác nào một pháo đài tiền tiêu ngày đêm canh giữ an ninh cho một vùng biên địa. Nhiều hôm, từng đám mây trắng bay chầm chậm đi qua đỉnh động, có đám thì sà xuống thấp len lỏi qua các ngóc ngách của cửa hang tạo ấn tượng như động đá đang nuốt chửng những đám mây. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Mạc Thiên Tích đã đặt tên cho cảnh trí này là "Thạch Động thôn vân", tức động đá nuốt mây, là một trong 10 cảnh đẹp nổi tiếng của đất Hà Tiên và xếp vào hàng thứ năm trong 10 bài tổng vịnh
-  Lối vào có “bia Căm Thù”, ghi lại cuộc thảm sát 130 người dân vô tội của lính Pôl Pốt năm 1978.
- Bên ngoài nhìn vào ta thấy 2 chỏm đá nhô ra ngoài, tùy theo vị trí ta đứng sẽ thấy giống hình đầu chim đại bàng hay bầu vú. Điều đặc biệt là tảng nằm ngay cửa hang thường có nước chảy ra nên người dân gọi là Vú Mẹ, còn tảng kia thì khô ráo nên gọi là Vú cha.
- Khi leo lên một đoạn dốc là đến trước cửa động, phía trên có đề ba chữ "TIÊN SƠN TỰ", hai bên là hai câu đối
"Thạch thượng linh lung lưu ngọc dịch
 Đặng trung tĩnh địa ẩn Kim tiên".
- Bước vào bên trong động, một bầu không khí mát lạnh lan tỏa khắp nơi. Cũng giống như các hang động đá vôi khác, ánh sáng bên trong Thạch Động mờ ảo lung linh. Hang khá rộng và sâu, những khối thạch nhũ mang đủ hình thù kỳ dị, có người tưởng tượng là con trăn tinh trong chuyện cổ tích thần thoại, có hình thù giống các muông thú, có hình lại giống một người đàn bà mà theo dân gian truyền tụng, thì đó là Phật bà Quan Âm, có tượng thì cho đó là Thạch Sanh…
- Và, cũng theo truyền thuyết dân gian, câu chuyện Thạch Sanh chém trăn tinh ở hang sâu lại gắn liền với Thạch Động này. Có lẽ vì thế mà phần lớn người Khơ-me sống quanh vùng đều mang tên họ Thạch chăng? Ở đây, trước kia có một cái hang sâu thăm thẳm và khá nguy hiểm cho những khách tham quan có óc tò mò, khám phá khi vào hang động nên người địa phương đã lấp miệng hang từ lâu. Tương truyền, hang động này ăn thông ra vịnh Thái Lan nên một khi thả những trái dừa xuống hang sẽ có thể tìm thấy nó ở bãi biển Mũi Nai sau đó.
- Trong động còn có đường đi lên lưng chừng núi, đến tận vòm hang. Từ đây du khách có thể phóng tầm mắt nhìn sang đất Cam-pu-chia với các phum sóc ẩn hiện dưới chân đồi hay nhìn toàn cảnh thị xã Hà Tiên thơ mộng thu nhỏ trong tầm mắt, và xa xa là vịnh Thái Lan nhấp nhô những hòn đảo cùng các ghe thuyền chấm phá trên màu xanh của biển nước…
"Thạch Động thôn vân" thật xứng đáng là một cảnh đẹp của "Hà Tiên thập cảnh" được Mạc Thiên Tích trong tao đàn Chiêu Anh Các đề cao trong bài thơ tổng vịnh mười cảnh đẹp:
"Bình Sơn, Thạch Động là rường cột
Sừng sững muôn năm vẫn để dành."
* Cây Thốt nốt
- Có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới châu Phi như Ethiopia, Niger, Nigeria, miền bắc Togo, Senegal v.v, miền nam châu Á và New Guinea. Chúng là các loại cây thân cau/dừa cao thẳng đứng, có thể cao tới 30 m. Lá dài, hình chân vịt, dài 2 - 3 m. Các lá chét dài 0,6-1,2 m. Cuống lá (mo) mở rộng. Hoa nhỏ, mọc thành cụm dày dặc, thuộc loại đơn tính khác gốc. Hoa đực nhỏ, có 3 lá đài, 3 cánh rời xếp lợp, 6 nhị ngắn, bao phấn 2 ô. Hoa cái to, gốc có lá bắc, đài và tràng rời, bầu hình cầu, có 3 - 4 ô, 3 đầu nhị cong. Quả lớn màu nâu hoặc nâu hạt dẻ hình dạng hơi tròn với 3 hạch, hạt thuôn chia 3 chùy ở đỉnh. Tại Việt Nam mọc và được trồng ở các tỉnh khu vực Nam Bộ giáp với Campuchia. Tên gọi thốt nốt trong tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Khmer th'not. Đây là loài cây biểu tượng không chính thức của Campuchia.
- Các loài thốt nốt có tầm quan trọng kinh tế đáng kể và được trồng rộng rãi trong các khu vực nhiệt đới. Cây thốt nốt là một trong những cây có tầm quan trọng nhất của Ấn Độ từ rất lâu, tại đây người ta sử dụng thốt nốt theo trên 800 kiểu khác nhau. Lá của nó được dùng làm mái che, thảm, giỏ, quạt, mũ, ô dù, cũng như làm vật liệu như giấy để viết.
- Các lá với kích thước, hình dạng và kết cấu phù hợp, không quá già không quá non được chọn. Sau đó đem luộc với nước muối và bột nghệ. Đây là công đoạn bảo quản. Các lá này sau đó được sấy khô. Khi chúng đủ khô, mặt lá được đánh bóng bằng đá bọt và cắt ra theo các kích cỡ thích hợp. Tại một góc người ta đục lỗ. Từ mỗi lá có thể làm ra 4 trang. Việc viết trên loại "giấy" này cần dùng bút châm. Lối viết là dạng chữ thảo và nối liền với nhau. Các lá sau đó được buộc lại với nhau thành các thếp.
- Các cuống (bẹ) lá cũng có thể dùng làm hàng rào và có thể lấy ra sợi rắn chắc phù hợp cho việc làm thừng, chão hay chổi. Gỗ màu đen là loại gỗ cứng, nặng và bền, có giá trị trong xây dựng.
- Từ cây này người ta cũng tạo ra nhiều loại thức ăn. Các cây non được đem nấu nướng như là một loại rau hoặc nghiền, giã hay nướng để làm thức ăn. Quả được ăn dưới dạng tươi hay nướng, người ta còn ăn cả các hạt non tựa như thạch. Dịch ngọt có thể thu được từ các bông mo non (kể cả hoa đực lẫn hoa cái). Nó được dùng lên men để làm một loại đồ uống, gọi là rượu arac, hoặc được cô đặc để sản xuất một loại đường thô gọi là đường thốt nốt. Tại Indonesia người ta gọi nó là Gula Java (đường Java) và được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực của người dân Java. Ngoài ra, nhựa từ thân cây cũng được dùng làm một loại thuốc nhuận tràng. Các giá trị y học cũng đã được quy cho các phần khác của cây.
* Khu vực Hòn Chông
 Từ thị xã Hà Tiên, ngược con đường đi Rạch Giá, đến Ngã Ba Hòn (20 km) thì rẽ tay phải đi tiếp 12 km đến mũi Hòn Chông
* Động Mo So
- Mo so là khối núi đá vôi, phần giữa bị xâm thực, sụp xuống thành một thung lũng tròn. Vách đá bị những dòng sông ngầm, sóng biển xoi thành những hang động, Bên trong giống ruột cá sấu nên còn được gọi là Hang Cá Sấu. Đường đi Mo So hiện nay chỉ thích hợp cho xe gắn máy hoặc đi thuyền.
* Chùa Hang
- Chùa nằm trong hang đá thông hai đầu. Đi vào bằng cổng chính trên có tên chùa “Hải Sơn Tự”. Đi hết hang tối mò thì ra bãi biển sáng ngời có Hòn Phụ Tử nổi bật trên nền biển xanh. Trong chùa có hai tượng Phật đầu nhọn kiểu tượng Miên hay Thái Lan. Truyền thuyết về hai tượng này liên quan đến Nguyễn Ánh. Theo lời kể thì một cô gái trong đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh khi đi thuyền qua đây gặp sóng lớn, cầu xin đức Phật phù hộ. Đến Thái Lan, cô lấy vua Xiêm, sinh được hai người con. Nhớ lời cầu khẩn năm xưa, bà sai hai con tạc tượng đưa về chùa Hang thờ.
* Hòn Phụ Tử
- Theo quyết định của Bộ Văn hóa - thông tin năm 1989, hòn Phụ Tử (xã Bình An, huyện Kiên Lương) được công nhận là danh lam thắng cảnh quốc gia. Hình dạng hòn Phụ Tử gồm hai khối đá dính liền nhau đứng trên một bệ đá có chiều cao 5m so với mặt biển. Trong đó hòn Phụ có chiều cao khoảng 33,6m và hòn Tử cao khoảng 30m. Theo báo cáo nhanh của Trung tâm Xúc tiến thương mại - du lịch Kiên Lương, phần gãy của hòn Phụ Tử là 20m, đường kính 20m, khối lượng khoảng 1.000 tấn. Vị trí ngã ngang về hướng đông. Phần còn lại chỉ còn khoảng trên 13m.
* Sự tích Hòn Phụ Tử
"Sự tích kể rằng xưa kia vùng này có hai con thuồng luồng sống đã ngàn năm rất to lớn, hung dữ, thường nhận chìm các thuyền đánh cá qua lại, đêm đến trườn lên bờ bắt người và súc vật, dân làng kinh hãi bỏ đi gần hết. Ngày nọ có hai cha con vị pháp sư đi ngang qua đây thấy cảnh nhà trống, ruộng vườn bỏ hoang nên động lòng thương, muốn ra tay trừ thủy quái. Hai cha con lập bàn tế thần linh rồi chèo thuyền ra khơi tìm thủy quái. Biển bỗng nổi sóng gió, từ xa hai con thủy quái chờn vờn bơi tới. Hai cha con miệng ngậm đạo bùa, tay cầm gươm thiêng lội tới nghinh chiến. Trận chiến thật ác liệt, hai con thủy quái bị thương máu loang hồng mặt biển. Trừ xong thủy quái, chèo thuyền vào bờ thì bỗng nhiên thuyền và hai cha con hóa đá thành hòn Phụ Tử."
- Nhìn từ xa thấy cụm hòn Phụ Tử có dáng như chiếc thuyền và hai cha con tựa vào nhau thành một thế vững chắc, sừng sững như đêm ngày canh giữ cho dân làng được yên ổn làm ăn sinh sống. Hòn Phụ Tử còn gợi vóc dáng hai mũi tên đặt trên bệ phóng. Nơi đây từng chứng kiến những thương thuyền Bồ Đào Nha, những cánh buồm của bọn cướp biển, những chiếc thuyền của Nguyễn Ánh, Tây Sơn, Nguyễn Trung Trực, rồi đến thuyền áp tải lương thực và vũ khí của quân dân ta trong hai cuộc khánh chiến chống Pháp và chống Mỹ.
- Khoảng 3g45 ngày 9-8, hòn Phụ Tử - một trong hai biểu tượng tự hào của người dân Kiên Giang - đã đột ngột ngã xuống biển phần hòn Phụ. Tại hiện trường, hòn Phụ Tử chỉ còn lại phần hòn Tử, phần cha đã chìm hẳn dưới làn nước đục ngầu của mùa biển động.
- Sáng 9-8, hàng trăm người dân đổ dồn về đây để xem. Tại hiện trường, hòn Phụ Tử chỉ còn lại phần hòn Tử (phần hòn con nhỏ hơn), phần cha (theo cách gọi của người dân ở đây) đã chìm hẳn dưới làn nước đục ngầu của mùa biển động.
- Chính vì lẽ đó, dù vừa qua, hòn Phụ, hòn Tử đã gặp biến cố nhưng chắc chắn sẽ sớm được phục dựng để tiếp tục cuộc chiến với thủy quái, bảo vệ những người dân lành mỗi sáng ra biển. Để thấy hết cái thi vị của Hòn Chông, du khách cũng có thể nghỉ lại đây, thưởng thức mọi dư vị mặn mòi, nghe thì thầm sóng biển như ru, như hát...
* Hang Tiền
- Ở trong một hòn núi, tuy sát đất liền nhưng cửa hang mở ra phía biển, phải đến bằng thuyền máy. Hang rộng và tối, có những khối thạch nhũ to lớn, vào tham quan phải có đèn pin. Hiện nay, khi có khách vào tham quan, người ta cho chạy máy phát điện cho cháy những bóng đèn nhỏ phía trong.
- Tương truyền Nguyễn Ánh khi chạy chốn Tây Sơn từng trú ở đây, dùng hang làm nơi đúc tiền tiêu dùng. Nên có tên gọi Hang Tiền

Các tour du lịch khác nổi bật