TIỂU SỬ HÀN MẶC TỬ
  • TIỂU SỬ HÀN MẶC TỬ

  • Mã tour:
  • Thời gian:
  • Giá tour: Liên hệ | Phương tiện:
  • Khởi hành: | Lịch trình: HÀN MẠC TỬ
  • Được tổ chức bởi: GIÀ LÀNG VIỆT

Gọi 0983997943 chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn

 
 
 
TIỂU SỬ
HÀN MẶC TỬ
 
- HÀN MẶC TỬ tên thật là NGUYỄN TRỌNG TRÍ, sinh 22 tháng 9 năm 1912 – mất 11 tháng 11 năm 1940 ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình; Lớn lên ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo, ông được rửa tội tại Nhà thờ Tam Tòa với tên thánh là PHANXICÔ.
- Tổ tiên Hàn Mặc Tử gốc họ Phạm ở Thanh Hóa. Ông cố là Phạm Chương vì liên quan đến quốc sự, gia đình bị truy nã, nên người con trai là Phạm Bồi phải di chuyển vào Thừa Thiên Huế đổi họ Nguyễn theo mẫu tánh. Sinh ra ông Nguyễn Văn Toản lấy vợ là Nguyễn Thị Duy (con cụ Nguyễn Long, ngự y có danh thời vua Tự Đức), sinh hạ được 8 người con:
1.NGUYỄN BÁ NHÂN Tức nhà thơ Mộng Châu, cũng là người dìu dắt Hàn Mặc Tử trên con đường thơ văn
2.NGUYỄN THỊ NHƯ LỄ
3.NGUYỄN THỊ NHƯ NGHĨA
4.NGUYỄN TRỌNG TRÍ
5.NGUYỄN BÁ TÍN      Người dời mộ Hàn Mặc Tử từ Quy Hòa về Ghềnh Ráng vào ngày 13/2/1959
6.NGUYỄN BÁ HIẾU
7.NGUYỄN VĂN HIỀN
8.NGUYỄN VĂN THẢO
- Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên Hàn Mặc Tử cũng đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921-1923), Pellerin Huế (1926).
- Hàn Mạc Tử, Lệ Thanh, Phong Trần là các bút danh khác của ông. Ông có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi. Ông cũng đã từng gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sỹ này. Ông được Phan Bội Châu giới thiệu bài thơ THỨC KHUYA của mình lên một tờ báo. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Ông quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi. Lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.
- NGUYỄN TRỌNG TRÍ làm thơ từ năm mười sáu tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. "HÀN MẠC TỬ" nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. "Mặt Trăng khuyết" đã được "đặt vào" chữ "Mạc" thành ra chữ "Mặc". Hàn Mặc Tử có nghĩa là "CHÀNG TRAI BÚT NGHIÊN".
- Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo CÔNG LUẬN. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.
- Theo gia đình Hàn Mặc Tử, thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập "GÁI QUÊ", rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ PHỤ NỮ TÂN VĂN, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại "phong ngứa" gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 - 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc "găng" tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.
- Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile - Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.
- Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa.. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.
- Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.
- Cuộc đời Hàn Mặc Tử CÓ DUYÊN VỚI 4 CHỮ BÌNH: Sinh tại QUẢNG BÌNH, làm báo TÂN BÌNH, có người yêu ở BÌNH THUẬN và mất tại BÌNH ĐỊNH. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông - có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như: TRÀ,  HOÀNG CÚC, MAI ĐÌNH, MỘNG CẦM, THƯƠNG THƯƠNG, NGỌC SƯƠNG.  (Xem  ►HÀN MẶC TỬ VỚI CÁC NÀNG THƠ)
- Các sáng tác của Hàn Mặc Tử, gồm có:
+ LỆ THANH THI TẬP  Gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật
+ GÁI QUÊ  1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời
+ THƠ ĐIÊN    Hay Đau Thương, thơ gồm ba tập: 1. Hương thơm; 2. Mật đắng; 3. Máu cuồng và hồn điên - 1938
+ XUÂN NHƯ Ý
+ THƯỢNG THANH KHÍ   Thơ
+ CẨM CHÂU DUYÊN
+ DUYÊN KỲ NGỘ   Kịch thơ - 1939
+ QUẦN TIÊN HỘI  Kịch thơ, viết dở dang - 1940
+ CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG Tập thơ-văn xuôi
+ Ngoài ra còn có một số bài phóng sự, tạp văn, văn tế..
Nhiều nơi ở Việt Nam dùng tên của ông để đặt cho đường phố như:
1.BÀ RỊA - VŨNG TÀU:  Đường Hàn Mạc Tử, phường 7, Vũng Tàu
2.ĐÀ NẴNG:     Đường Hàn Mạc Tử, phường Thuận Phước, Hải Châu
3.ĐẮK LẮK:      Đường Hàn Mặc Tử, phường Tân An, Buôn Ma Thuột
4.HUẾ:      Đường Hàn Mạc Tử, phường Vỹ Dạ, Huế, Thừa Thiên Huế
5.NGHỆ AN:     Đường Hàn Mạc Tử, phường Trung Đô, Vinh
6.PHAN THIẾT:    Con đường dẫn lên Lầu Ông Hoàng
7.QUẢNG BÌNH:   Đường Hàn Mặc Tử, phường Đồng Mỹ, Đồng Hới
8.THANH HÓA:    Phố Hàn Mặc Tử, phường Trường Thi, Thanh Hóa
9.TP HỒ CHÍ MINH:  Đường Hàn Mạc Tử, phường Số 12, Tân Bình và đường Hàn Mạc Tử, phường Tân Thành, Tân Phú
Có ít nhất hai bài hát được sáng tác để nói về cuộc đời ông: HÀN MẶC TỬ của TRẦN THIỆN THANH và TRƯỜNG CA HÀN MẶC TỬ của PHẠM DUY
Năm 2004, Hãng phim truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (TFS) đã thực hiện bộ phim HÀN MẶC TỬ để kỷ niệm ông.

Các tour du lịch khác nổi bật