TỈNH BẾN TRE
  • TỈNH BẾN TRE

  • Mã tour:
  • Thời gian:
  • Giá tour: Liên hệ | Phương tiện:
  • Khởi hành: | Lịch trình: THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM
  • Được tổ chức bởi: GIÀ LÀNG VIỆT

Gọi 0983997943 chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn

 
 
 
 
TỈNH BẾN TRE
 
"Bến Tre nước ngọt lắm dừa
Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm
Sầu riêng, măng cụt Cái Mơn
Nghêu sò Cồn Lợi, kẹo ngon Mỏ Cày
Xoài chua, cam ngọt Ba Lai
Bắp thì Chợ Giữa, Mắm thì Giồng Trôm"
* Tỉnh Bến Tre có:
- Diện tích: 2.287 Km2
- Dân số: 1.337.800 người (Theo điều tra dân số 1/4/2009)
- Tỉnh lỵ:Thành phố Bến Tre
- Các huyện:  Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú.
- Mã vùng điện thoại cố định:  0275  Biển số xe: 71
- Bến Tre hình thành bởi 3 cù lao lớn: Cù lao Bảo, cù lao Minh, cù lao An Hóa do bốn con sông lớn chia cắt là: Tiền Giang, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên.
- Bến Tre là vựa lúa lớn của đồng bằng Sông Cửu Long với nhiều sản vật và hoa quả. Đặc biệt Bến Tre là xứ sở của dừa (gần 40.000 hecta trồng dừa).
- Bến Tre nổi tiếng với: kẹo dừa Bến Tre, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc.
- Bến Tre còn là nơi sinh sống và an nghỉ của nhiều danh nhân văn hóa: Nguyễn Đình Chiểu. Phan Thanh Giản, Võ Trường Toản.
- Bến Tre Là quê hương của phong trào Đồng Khởi (huyện Mỏ Cày năm 1960)
- Có 1 bài thơ nói về cây dừa:
 “Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu
Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng
  Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao
  Đêm hè hoa nở cùng sao
Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh
   Ai đem nước ngọt, nước lành
Ai đem hủ rượu đeo quanh cổ dừa
   Bóng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi làn gió đến cùng dừa múa reo”
* NGHỀ KẸO DỪA Ở BẾN TRE
 "Bến Tre nước ngọt sông dài
Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh
  Kẹo Mỏ Cày vừa thơm vừa béo
Gái Mỏ Cày vừa khéo (lại) vừa ngoan."
- Bài thơ này đã cho chúng ta biết nguồn gốc của kẹo dừa Bến Tre là từ huyện Mỏ Cày. Người đầu tiên làm ra kẹo là bà Nguyễn Thị Ngọc, sinh năm 1914, cư ngụ tại khu phố 1, thị trấn Mỏ Cày.
- Kẹo dừa Bến Tre vừa là một đặc sản ẩm thực, vừa là một nghề thủ công truyền thống mang đậm văn hóa xứ sở.
- Nguyên liệu làm kẹo dừa gồm: nước cốt dừa, mạch nha, đường (trước kia người ta dùng đường thùng nhưng ngày nay dùng đường cát). Mạch nha được chắt lọc từ chất đường của hạt nếp khi được ủ cho lên mầm.
- Muốn làm kẹo ngon, khâu chọn nguyên liệu rất quan trọng. Thóc nếp dùng để nấu mạch nha phải là nếp tốt, hạt to chín đều. Để nẩy mầm thóc phải được tưới bằng nước mưa sạch rồi đem nấu lấy mạch nha. Thợ nấu mạch nha phải là thợ lành nghề điêu luyện. Dừa khô lựa trái “rám vàng” mới vừa hái xuống. Vì trái dừa mới bắt đầu khô này có hương vị đặc trưng, nước cốt có độ ngọt thanh. Đường nấu kẹo phải chọn loại đường mới, có màu vàng tươi.
* CỒN PHỤNG
- Là cù lao nổi giữa sông Tiền, rộng 28 hecta, bên cửa ngõ đi vào tỉnh Bến Tre, cạnh cầu Rạch Miễu, thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành.
- Nơi đây từng là “THÁNH ĐỊA CỦA ĐẠO DỪA” trong thập kỷ 60. Hiện nay, một số di tích kiến trúc của ông đạo Dừa vẫn còn lưu giữ như: sân rồng, tháp, nhà hội, cầu tàu…
- Trên Cồn Phụng còn có nhiều người làm hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng từ nguyên liệu dừa và nhiều gia đình nuôi ong lấy mật. Đây cũng là một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Bến Tre.
* ĐẠO DỪA – ÔNG ĐẠO DỪA
 - Đạo Dừa là một tín ngưỡng tại miền Nam Việt Nam, còn gọi là Đạo Vừa (vừa phải, trung dung) hoặc Hòa đồng Tôn giáo. Và cũng là tên gọi cho người sáng lập, thường được gọi là Ông Đạo Dừa, tên thật là Nguyễn Thành Nam (1910-1990), là người sáng lập Đạo Dừa ở Bến Tre, Việt Nam.
- Ông Đạo Dừa sinh năm 1910 tại xã Phước Thịnh, tổng An Hòa, huyện Trúc Giang, tỉnh Kiến Hòa (nay là huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
- Ông là con của một gia đình giàu có. Cha tên Nguyễn Thành Trúc, làm chánh tổng từ năm 1940 đến năm 1944 và mẹ là bà Lê Thi Sen. Năm 1928, ông sang Pháp du học tại Rouen. Năm 1935, ông tốt nghiệp kỹ sư hóa học và về nước. Năm 1935, ông cưới bà Lộ Thị Nga và sinh ra một người con gái tên là Nguyễn Thị Khiêm. Năm 1945, ông đến chùa An Sơn ở Bảy Núi, Châu Đốc, quy y cầu đạo với hòa thượng Thích Hồng Tôi. Tu theo luật đầu đà, ông ngồi tại bệ đá trước cột phướn chùa suốt 3 năm, đêm ngày tịnh khẩu, chịu đựng gió sương, thân hình chỉ còn da bọc xương.
- Năm 1948, ông trở về Định Tường (nay là Tiền Giang) ngồi tựa mé sông trên cầu Bắc, hành đạo mặc kẻ qua người lại. Năm 1950, ông trở lại xã Phước Thạnh dựng đài bát quái cao 14 thước, đêm đêm lên ngồi hành đạo trên đài, choàng một manh áo, chịu đựng mưa nắng. Mỗi năm ông chỉ tắm một lần vào ngày Phật Đản.
Năm 1958, ông gửi thư phản đối Tổng thống Ngô Đình Diệm về một chính sách nào đó, nên bị bắt giam, sau được thả ra...
- Năm 1963, ông Nguyễn Thành Nam đến Cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xây dựng chùa Nam Quốc Phật'', và tại đây ông lập ra đạo Dừa. Ông đặt mua một xà lan lớn có sức chứa hàng trăm tấn, thiết kế làm ba tầng đưa về neo đậu bên một khu đất, trên đó xây dựng một số tháp, đài, nhà khách, vườn hoa...
- Ông tự xưng là Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình, tuyên bố theo cả ba tôn giáo là Nho, Phật, Lão. Đạo của ông không cần tụng kinh, gõ mõ mà chỉ cần ngồi tham thiền và ăn chay, tưởng niệm... Về thực phẩm, Đạo Dừa khuyên nên ăn dừa và uống nước dừa.
- Ông thử nghiệm hòa đồng dân tộc bằng cách nuôi chuột và mèo sống chung với nhau trong một lồng. Qua hình ảnh này ông chứng-minh là hai kẻ đối-nghịch vẫn có thể "sống chung hòa-bình" và mong muốn Việt Nam sẽ không còn chiến tranh. Năm 1967, ông có nhờ báo chí tuyên truyền đạo của mình và vận động ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Trong số tín đồ Đạo Dừa có con trai của nhà văn Mỹ John Steinbeck.
Sau 1975, Đạo Dừa bị cấm, ông tìm cách vượt biên nhưng không thoát và bị bắt đưa đi học tập cải tạo. Về sau, ông được người thân trong gia đình lãnh về sống tại Phú An Hòa. Năm 1990, ông qua đời ở tuổi 80.
- Là một trong nhiều đạo tồn tại ở Miền Nam trước 1975. Đạo Dừa chủ trương hòa đồng tôn giáo, tổng hợp tinh hoa của nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Kitô giáo. Dựng đàn Bát quái, lập thuyền Bát nhã với đài lộ thiên để cầu Phật, tiên, thánh... sao cho mưa thuận gió hòa, dân sống yên vui, đất nước thái bình, vv... Tín đồ lên đến hàng vạn.
- Khi ông ra tranh cử tổng thống năm 1967, có một tín đồ tặng ông một cặp ngà voi, mỗi chiếc dài 1,8m, nặng 45kg, có đường kính 0,5m. Nay cặp ngà voi này được công nhận là cặp ngà voi lớn nhất Việt Nam, hiện đang được trưng bày ở phòng khách Tỉnh ủy Bến Tre
- Hiện nay tại Cồn Phụng còn nhiều di tích Đạo Dừa trên diện tích chừng 1.500m², hiện được bảo tồn nguyên trạng các hạng mục kiến trúc được xây dựng từ thời trước : sân 9 con rồng; tháp Hoà bình (cửu trùng đài).... Một khu được sửa thành nơi điều dưỡng và du lịch. Còn chiếc xà lan lớn làm nơi hành đạo cũ được đưa về làm khách sạn nổi trên sông Bến Tre
* KHU LƯU NIỆM NGUYỄN THỊ ĐỊNH
- Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/3/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu nước. Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau (1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích - Tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó. Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.
- Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm hoạt động kiên cường, bất khuất của bà trong nhà tù.
- Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia giành chính quyền vào tháng 8/1945. Tuy còn ít tuổi nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước mãnh liệt, lại nhiều mưu trí nên bà được Tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam bộ và xin vũ khí chi viện, mở ra “ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN BIỂN”.
- Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ-Diệm ác liệt, với luật 10/59 của Ngô Đình Diệm, địch cứ truy tìm quyết liệt, chúng còn treo giải thưởng cho ai bắt được bà. Nhưng chúng đã không làm gì được bà vì bà luôn thay hình đổi dạng, có lúc giả làm thầy tu, thương buôn, lúc làm nông dân… và luôn được sự đùm bọc của những gia đình cơ sở cách mạng, của những người mẹ, người chị để qua mắt kẻ địch.
- Sự thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre (17/01/1960) đã trở thành biểu tượng kháng chiến kiên cường, bất khuất, tiêu biểu cho phong trào cách mạng miền Nam, chuyển từ thế phòng ngự, bảo toàn lực lượng, sang thế tấn công, dẫn đến thắng lợi hoàn toàn. Đồng Khởi Bến Tre còn thể hiện rõ phương châm đánh địch bằng ba mũi giáp công, đặc biệt là phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của đội quân tóc dài.
Sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng nói: “Một người phụ nữ đã chỉ huy thắng lợi cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre thì người đó rất xứng đáng được làm tướng và ở trong Bộ Tư lệnh đánh Mỹ”. Giữa năm 1961, bà được điều động về làm việc ở Bộ Tư lệnh miền Nam cho đến cuối năm 1964 với chức danh Bí thư Đảng – Đoàn, Chủ tịch Hội Phụ nữ. Năm 1965, bà được giao giữ chức Phó Tổng Tư lệnh quân giải phóng miền Nam đến năm 1975. Bác Hồ từng nói: “Phó Tổng tư lệnh quân giải phóng miềm Nam là cô Nguyễn Thị Định, cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta”.
- Năm 1974, được phong quân hàm Thiếu tướng nhưng bà rất nhân ái, rộng lượng, bao dung, sống chan hòa với mọi người, luôn thể hiện đậm nét là một người đồng đội, người chị, người mẹ hiền, tận tụy chăm sóc mọi người từ cơm ăn, áo mặc. Đó là đức tính cách mạng của nữ tướng Nguyễn Thị Định đã được soi sáng nhân cách làm người cho thế hệ hôm nay và mai sau.
- Từ sau ngày miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, Bà Định đã giữ nhiều chức vụ trọng trách mới cùng Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo thành công việc thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước bà quan hệ và làm việc với nhiều nước trên thế giới. Bà nhận được nhiều phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước ta cũng như thế giới đã trao tặng.
- Trước lúc mất (2 ngày), bà còn đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu nhưng do tuổi cao, sức yếu, lại thêm căn bệnh đau tim nên lúc 22 giờ 50 phút ngày 26 tháng 8 (tức 28/7 âm lịch ) năm 1992, bà đã vĩnh biệt chúng ta và yên nghỉ tại Nghĩa trang Thành phố HCM.
- Để tri ân công lao đóng góp của nữ tướng Nguyễn Thị Định, ngày 30/8/1995, bà được Nhà nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Khu lưu niệm được xây dựng tại quê hương bà - ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Trên phần đất có diện tích là 15.000m2.
- Ngày 26 tháng 12 năm 2000, lễ khởi công được long trọng tổ chức và đến ngày 20 tháng 12 năm 2003, nhân dịp kỷ niệm 43 năm thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960 – 20/12/2003), Khu lưu niệm Nguyễn Thị Định đã được khánh thành và đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư là hơn 3,5 tỉ đồng.
- Kiến trúc xây dựng theo tín ngưỡng dân gian: mái cong, ngói vải cá, với khung sườn chính là bê tông cốt thép, mái cũng được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép, cột tròn và có hoa văn trang trí ở diềm mái, đầu hồi, đầu cột.
- Ngày 8 tháng 4 năm 2007, nhà triển lãm cùng với tượng đồng vị nữ tướng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng. Tượng đồng được đặt trong đền thờ. Tượng nặng 1.025 kg, cao 1m75, đặt trên bệ bằng đá hoa cương cao 1,5m
- Hàng năm vào ngày 28/7 (âm lịch) lễ kỷ niệm ngày mất của Bà được tổ chức trang trọng tại đây.
* ÔNG GIÀ BA TRI
- Ông già Ba Tri – thành ngữ ấy từ lâu đi vào trong ký ức dân gian, trong sử sách và đã vượt khỏi địa giới của Bến Tre, trở thành một giai thoại sống động ngợi ca về tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già trong thời kỳ khai hoang, lập ấp, lập làng, ổn định đời sống của cư dân vùng đất ven biển bên cửa Hàm Luông. Câu chuyện gắn liền với việc đắp đập, ngăn sông liên quan đến sự phát triển kinh tế giữa hai làng ở gần nhau trên cùng con rạch Ba Tri. Cũng như những chuyện tranh chấp khác về lãnh thổ, thủy lợi, về bến sông, chợ búa vốn xảy ra thường xuyên dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn của hai dân làng ở nơi đây không giải quyết được, phải kiện lên quan tỉnh Vĩnh Long. Kết quả phân xử của quan tỉnh không làm họ hài lòng, nên dân làng góp tiền gạo, cử ba bô lão mang đơn ra triều đình Huế thưa kiện.
- Đường từ Ba Tri đến kinh đô Huế dài cả ngàn cây số và lúc bấy giờ chỉ có hai cách đi:
+ Một là đi bằng thuyền, phải chờ mùa gió thuận, chưa nói đến bão tố nguy hiểm xảy ra thường xuyên.
+ Hai là bằng đường bộ thì lại lắm đèo, nhiều dốc hiểm trở, đầy cọp, beo và giặc cướp ở dọc đường.
- Thế nhưng những trở ngại to lớn ấy đã không ngăn được ý chí và quyết tâm của các vị bô lão, đại biểu của dân làng Ba Tri. Các cụ già đã ra tận kinh đô bằng sức của đôi chân, đã tiếp kiến được nhà vua để trình bày mọi lẽ, và cuối cùng các cụ đã thắng cuộc, trở về. Lẽ phải ở về phía dân làng đi thưa kiện.
- Cốt lõi của câu chuyện là sự đề cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi trở lực, hiểm nguy qua hình tượng của các bô lão địa phương - người đại diện cho nguyện vọng, phẩm cách và ý chí của dân làng. Có lẽ đó là điều mà mọi người quan tâm nhiều nhất.
- Vượt qua thời gian và không gian, câu chuyện Ông già Ba Tri được người sau thêm thắt một số chi tiết, làm cho giai thoại trở nên sinh động hơn, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những dị bản. Ngày nay, danh từ "Ông già Ba Tri" đã trở thành sự tượng trưng cho đức tính cao đẹp, một biểu tượng về đạo lý sống của nhân dân ở một vùng đất vốn có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất.
* KHU DI TÍCH NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
- Khu di tích Nguyễn Đình Chiểu tọa lạc tại Ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 16-3-1993. Khánh thành ngày 1-7-2002 với tổng diện tích khu mộ và đền thờ là 13.000m2.
- Từ cổng đền đến nhà bia có sân rộng để khách tham quan có thể ngồi nghỉ ngơi, khu vực đền còn trồng nhiều cây kiểng quý, được uốn tỉa công phu. Toàn bộ hình thành một hệ thống hòa nhập với quang cảnh xanh tươi vốn có của vùng quê An Đức. Đền thờ hình tròn với 3 tầng mái tượng trưng cho ba nghề nghiệp của cụ Đồ Chiểu đó là nghề dạy học, bốc thuốc và nhà thơ.
- Tượng cụ Đồ được làm bằng đồng thau, nặng 1,2 tấn. Mảng phù điêu bên trái tả cảnh cụ Đồ đọc văn tế “LỤC TỈNH SĨ DÂN TRẬN VONG” tại chợ Đập (Ba Tri) năm 1883. Mảng phù điêu bên phải miêu tả trận đánh của Phan Ngọc Tòng tại Giồng Gạch ( xã An Hiệp – Ba Tri ).
* CỤ NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
- Cụ Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù lấy hiệu Hối Trai, sinh ngày 1/7/1822 tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định năm 1843. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ  Dậu  (năm 1849 ) nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về chịu tang mẹ vì quá lo buồn khóc thương ông lâm bệnh và bị mù hai mắt. Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, cụ Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình chạy về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây ông dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn. Ông có mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông…
- Cụ đã dùng ngòi bút để ca ngợi các cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân, tố cáo tội ác của giặc Pháp. Cụ kiên quyết chống bọn vua quan bán nước, không hợp tác với giặc, giữ vẹn tấm lòng yêu nước thương dân.
- Hai câu thơ:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
 Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” 
- Trong truyện thơ nôm Dương Từ - Hà Mậu của cụ như một lời tuyên ngôn, khẳng định một chính kiến, một chân lý ngời sáng đến muôn đời. Tác phẩm thơ văn của cụ như truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp hay các bài thơ điếu, văn tế như: Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong, Văn điếu Trương Định, thơ điếu Phan Tòng, Phan Thanh Giản… đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ.
- Trong khu di tích có mộ của cụ, mộ bà Lê Thị Điền - người vợ hiền của cụ, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ.
- Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của một nhà thơ lớn  yêu nước của dân tộc đồng thời cũng là nhà giáo, người thầy thuốc của nhân dân nửa sau thế kỷ XIX. Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27/4/1990.
* GIỚI THIỆU VỀ CẦU RẠCH MIỄU
 - Ngày 19-1-2009, cầu Rạch Miễu chính thức được đưa vào sử dụng, xóa đi cảnh ngăn sông cách trở của Bến Tre, là điều kiện để cho tỉnh phát triển thuận lợi hơn. Nhưng khi đường cao tốc từ thành phố Hồ Chí Minh về miền Tây đưa vào vận hành và cùng vài thứ khác nữa, lúc ấy Bến Tre mới thật sự trở thành “lá phổi” lý tưởng cho thành phố và các khu công nghiệp trong những ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, ngày tết.
- Cầu Rạch Miễu có tổng chiều dài 8.331m. Phần cầu chính xây dựng theo công nghệ dây văng, nối từ bờ Mỹ Tho sang cù lao Thới Sơn (Châu Thành, Tiền Giang) có chiều dài là 1.898m, và cầu dự ứng lực nối tiếp từ cù lao Thới Sơn sang xã An Khánh (Châu Thành, Bến Tre) dài 990m. Cầu Rạch Miễu có tải trọng cao nhất là 80 tấn, bề rộng mặt cầu 15m, còn chiều cao thông thuyền là 37,5m. Đây là cây cầu dây văng đầu tiên do các đơn vị trong nước thiết kế và xây dựng. Ước tính tổng vốn xây dựng cầu là 1.400 tỉ đồng.

Các tour du lịch khác nổi bật