TỈNH SÓC TRĂNG
  • TỈNH SÓC TRĂNG

  • Mã tour:
  • Thời gian:
  • Giá tour: Liên hệ | Phương tiện:
  • Khởi hành: | Lịch trình: THUYẾT MINH TUYẾN ĐIỂM
  • Được tổ chức bởi: GIÀ LÀNG VIỆT

Gọi 0983997943 chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn

 
 
 
TỈNH SÓC TRĂNG
- Diện tích: 3.223 km2                
- Dân số:  1.234.300 người
- Tỉnh lỵ: Thành phố Sóc Trăng
- Các huyện, thị: Kế Sách, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Long Phú, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung, Ngã Năm
Mã vùng: 0299   Biển số xe: 83
  Sóc Trăng hay Sốc Trăng là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam.
VỊ TRÍ
  Sóc Trăng có phần đất liền nằm từ 9°14'-9°56' vĩ độ bắc và 105°34'-106°18' kinh độ đông, phía bắc và tây bắc giáp Hậu Giang, phía nam và tây nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông bắc giáp Trà Vinh, phía đông và đông nam giáp biển 72 km.
Tỉnh lỵ của Sóc Trăng hiện nay là thành phố Sóc Trăng, cách Thành phố Hồ Chí Minh 231 km.
  Sóc Trăng là vùng đất trẻ, được hình thành qua nhiều năm lấn biển nên địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ là những vùng trũng và các giồng cát với cao trình phổ biến ở mức 0,5-1,0 m so với mặt biển, nghiêng từ tây bắc xuống đông nam và có hai tiểu vùng địa hình chính: vùng ven sông Hậu với độ cao 1,0-1,2 m, bao gồm vùng đất bằng và những giồng cát hình cánh cung tiếp nối nhau chạy sâu vào giữa tỉnh; vùng trũng phía nam tỉnh với độ cao 0-0,5 m, thường bị ngập úng dài ngày trong mùa lũ.
  Ngoài ra, Sóc Trăng còn có những khu vực nằm giữa các giồng cát, không hình thành vùng tập trung với độ cao trung bình 0,5-1,0 m.
SÔNG
  Trên địa bàn Sóc Trăng có hai sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, đổ ra biển qua cửa Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh.
HÀNH CHÍNH
  Tỉnh Sóc Trăng trong thời Pháp thuộc là một phần của tỉnh Bạc Liêu. Năm 1956, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, Sóc Trăng được lập thành tỉnh riêng lấy tên là tỉnh Ba Xuyên, còn tỉnh lỵ có tên là Khánh Hưng.
Tháng 2/1976, tỉnh mới Hậu Giang được thành lập từ hai tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ cũ (có tên gọi là Ba Xuyên và Phong Dinh theo chính quyền Việt Nam Cộng hòa).
Từ 26/12/1991, tỉnh Sóc Trăng được tái lập từ tỉnh Hậu Giang.
Sóc Trăng có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm:
- Thành phố Sóc Trăng
- Châu Thành, Long Phú, Cù Lao Dung, Mỹ Tú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu, Ngã Năm, Kế Sách, Mỹ Xuyên
- Các thành phố và huyện lại được chia làm 106 xã, phường và thị trấn.
DÂN CƯ
Sóc Trăng có diện tích tự nhiên 3.223,3 km². dân số (theo kết quả điều tra ngày 01/04/200) là 1.289.441 người. Trên địa bàn tỉnh có 26 dân tộc, chủ yếu là người Kinh, người Khmer và người Hoa. Sóc Trăng có khoảng 350.000 người Khmer, đông nhất trong số các địa phương có người Khmer sinh sống, chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh và chiếm 32,1% tổng số người Khmer của cả nước.
NGUỒN GỐC TÊN GỌI
Tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là "xứ", "cõi", Kh'leang là "kho", "vựa", "chỗ chứa bạc". Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là "Sốc-Kha-Lang" rồi sau đó thành Sóc Trăng. Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh (chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang).
Văn hóa
  Có nền văn hóa ba dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer với nhiều màu sắc hấp dẫn.
Ẩm thực
- Bánh pía là loại đặc sản của Sóc Trăng, được xuất khẩu đến các nước trên thế giới.
- Lạp xưởng
- Bún nước lèo là đặc sản của toàn tỉnh Sóc Trăng đi đâu trong tỉnh bạn cũng sẽ gặp được những quán Bún nước lèo này, thậm chí ở một số Thành phố lớn ở Việt Nam bạn cũng có thể bắt gặp được món Bún nước lèo này.
- Bánh cống ở xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên. Đây là loại bánh làm từ thịt heo băm nhuyễn, bột sắn và hột đậu xanh, với nước nắm chua ngọt.
- Bò nướng ngói đặc sản của huyện Mỹ Xuyên: thịt bò được nướng trên tấm ngói, gói rau bún chấm vói nước mắm nêm pha với ít khóm.
- Ngoài ra con một số món như: bún xào Thạnh Trị, bún gỏi già....
SÓC SỜ-BAI SÓC TRĂNG
“Người dân quê tôi Sóc Trăng đã bao đời dầm mưa dãi nắng
Đổi lấy chén cơm thơm ngọt
Như sữa mẹ mát ngọt đời con
Sông quê tôi đổ về ba ngã cây trái ngọt uống dòng phù sa
Đường qua Trường Khánh có người bạn Hoa
Tùa chế tùa hia, úa tá lư thìa
Về Đại Tâm thăm người bạn Khơmer
Nghe hát dù kê và điệu múa lâm thôn
Sóc sờ bai bòn, tâu na bòn, tâu na bòn ơi
Về đây quê hương Sóc trăng lũy tre làng hàng dừa rợp bong
Dù đi bốn biển năm châu xa quê rồi mới hiểu lòng đau”
CHÙA KHLÉANG:
  Chùa có từ thế kỷ 16, địa danh Srock Khleang (sau này đọc là Sóc Trăng) bắt nguồn từ đây. Chùa có chánh điện, nhà sala kiểu nhà sàn, các tháp để hài cốt sư sải và Phật tử. Chùa nằm gần trung tâm thành phố, số 71 đường Mậu Thân.
BỬU SƠN TỰ (HAY CHÙA ĐẤT SÉT)
  Đây là một am thờ đã qua nhiều đời của dòng tộc họ Ngô, có tất cả tượng Phật đến linh thú, bảo tháp, đỉnh trầm đều được làm từ đất sét. Phần lớn do ông Ngô Kim Tòng sáng tạo trong suốt 42 năm (1928-1970).
  Ngoài ra, trong chùa còn có 6 cây nến lớn hai cây nặng 200kg hai cây nến nhỏ nặng 100kg và 3 cái đỉnh bằng đất mõi cái cao 2m.hai cây nến nhỏ đã đốt liên tục trong 35 năm kể từ năm 1970 khi ông Ngô Kim Tòng qua đời. Sáu cây nến lớn chưa đốt, mỗi cây sẽ có thời gian cháy liên tục khoảng 70 năm.
CHÙA MÃ TỘC (HAY CHÙA DƠI)
  Chùa được xây dựng cách đây 400 năm. Chùa còn có tên là chùa Dơi vì ngôi chùa này từ lâu đã là nơi trú ẩn của khoảng 1 triệu con dơi, phần lớn có sải cánh 1-1,2 m, những con lớn nhất có sải cánh lên tới 1,5 m. chúng treo mình trên những cành cây chung quanh chùa để ngủ suốt ngày,đến chiều tối mới bắt đầu lần lượt bay đi kiếm ăn ở những nơi có nhiều vườn trái cây cách xa hàng chục km.
  Trong khoảng vườn sau chùa có vài ngôi mộ heo năm móng. Nguyên nhân người Khơme kiêng không nuôi heo năm móng. Gặp heo con như vậy họ gửi vào chùa, chùa nuôi cho đến khi heo chết thì chôn, mộ xây lớn, có vẽ chân dung chú heo đang an nghỉ thong dong trên thiên đàng
CHÙA CHÉN KIỂU:
  Một chùa đẹp có tên là Sa Lôn được xạy dựng từ năm 1815, từ kiểu trang trí với các đĩa men trên vách tường mà có tên chùa Chén Kiểu. Chùa nằm trên Quốc lộ 1 A, hướng Sóc Trăng đi Bạc Liêu,  cách Sóc Trăng 7 km.
BÁNH CÓNG:
  Bánh cóng là món ngon nổi tiếng của Sóc Trăng rất được người Sài Thành ưa chuộng. Khó có thể nói chính xác bánh cóng có mặt ở Sài Gòn từ khi nào, chỉ biết là rất lâu rồi.
  Thường người ta hay ăn chung với bánh cuốn nhưng đó chỉ là kiểu ăn kèm để cho món thêm đậm đà vì khi ấy miếng bánh cóng đã nguội, xếp gọn ghẽ trong tủ kính hoặc trong khay, mất hẳn độ nóng giòn thơm phức. Người sành ăn vẫn thích những hàng quán chỉ chuyên về bánh cóng, nơi mà chỉ cần đi ngang qua đã nghe mùi thơm lan tỏa cuốn hút từ chảo dầu sôi sùng sục và trong đó là những chiếc bánh cóng vàng ruộm hấp dẫn.
  Cũng như bánh xèo, bánh cóng nhìn có vẻ nhiều dầu mỡ và tôm thịt nhưng lại là món ăn cân đối dinh dưỡng vì ăn kèm với rất nhiều loại rau, trong đó không thể thiếu được cải xanh. Thứ cải hăng nồng này lại hợp lạ lùng với bánh cóng, đi chung với nhau vừa kích thích khẩu vị vừa gia giảm độ cay nồng và béo bùi tạo nên một hương vị thật đặc biệt.
  Không quy mô như những quán bánh xèo, những hàng bán bánh cóng thường khiêm tốn hơn, có khi chỉ là một góc nơi chợ hay quán nhỏ ven đường, đủ kê vài bộ bàn ghế lúp xúp. Nhưng nhỏ thì nhỏ mà khách đông vẫn cứ đông, sang có mà xuề xòa cũng có, ghé quán không cần chỗ ngồi rộng rãi thoáng mát mà cốt yếu là muốn thưởng thức bánh đổ tại chỗ, dọn ra bàn còn nóng hổi. Chủ quán ngồi ngay cạnh khách, luôn tay múc bột - chiên bánh - vớt ra, cứ thế làm không ngơi nghỉ.
Trên cái chảo dầu sôi luôn có thêm một vỉ sắt để khi vớt bánh ra sẽ gác lên cho ráo dầu. Nếu khách thắc mắc vì sao gọi là bánh cóng thì sẽ nhận được câu trả lời đơn giản là bánh đổ trong chiếc cóng, có hình dạng như những ca nhôm nhỏ thường dùng để đá tủ lạnh nhưng có tay cầm và móc.
  Người bán sẽ tráng một lớp bột gạo pha loãng dưới đáy, phủ thêm một lớp đậu xanh, một lớp thịt, tôm và củ sắn, sau cùng lại đổ một lớp bột gạo lên. Nhúng bánh vào chảo ngập dầu thật sôi, trong thời gian chờ bánh kết lại thì treo tạm lên vỉ sắt và quay sang làm cái khác; sau đó lại canh thời gian để khảy nhẹ bánh ra khỏi cóng và chiên đến khi vàng đều.
  Tuy chỉ là một món quà vặt nhưng toàn bộ quy trình làm bánh đều đòi hỏi phải tinh tế và khéo léo, từ khâu chọn gạo xay bột, hòa với đậu xanh và nước thế nào cho vừa đủ, pha nước chấm sao cho vừa ý khách. Bánh chiên phải có độ giòn xốp chứ không cứng, ăn vào phải đủ vị béo bùi của bột gạo, đậu xanh, tôm thịt nhưng không quá ngấy… Từng thứ nhỏ nhặt thôi nhưng nếu không chú ý thì sẽ dễ mất khách, vì khách đến với hàng bánh cóng vừa xuề xòa vừa khó tính. Dễ ở chỗ không kén nơi ngồi nhưng lại đòi hỏi cầu kỳ trong cách thưởng thức, bánh phải đủ ngon thì mới giữ chân khách dài lâu.
  Miếng bánh nhỏ gọn trong lòng bàn tay thường “đánh lừa” thị giác của thực khách khi tưởng mình có thể cùng lúc ăn được… chục cái. Nhưng thường khách ăn đến cái thứ 3 là đã thấy no, cố gắng lắm cũng chỉ thêm được 1, 2 cái nữa.
  Món này thú vị nhất là ở cách ăn, phải tự tay gắp, cuốn rồi chấm thì mới thấy món sao mà ngon lạ lùng! Trải lá cải xanh ra, gắp một miếng bánh cóng, tùy thích thêm vài cọng rau thơm hay xà lách và cuốn lại, chấm với nước mắm chua ngọt pha sẵn, cảm giác như có thể ăn hoài không ngán.
BÁNH PÍA:
  Bánh pía là một trong những đặc sản có nguồn gốc từ Sóc Trăng. Bánh pía được làm bằng bột mì, sầu riêng, lòng đỏ trứng. Pía là âm đọc của người Triều Châu (người Tiều) của từ (bính), có nghĩa là bánh. Đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh lột da.
* NGUỒN GỐC
  Bánh pía là một loại bánh do một số người Minh Hương di cư sang Việt Nam từ thế kỷ 17 mang theo làm lương thực đi xa. Trước đây, việc làm bánh pía hoàn toàn mang tính thủ công và phục vụ cho nhu cầu của từng gia đình. Đến đầu thế kỷ 19, người đầu tiên làm bánh pía để kinh doanh và truyền nghề cho con cháu sau này là ông Đặng Thuận sinh sống ở làng Vũng Thơm (nay là xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng). Các lò bánh pía tập trung nhiều ở xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú.
  Bánh pía ngày trước cũng khá đơn giản, vỏ ngoài làm bằng bột mì có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân, lớp da ngoài dày thường để in chữ, nhân làm bằng đậu xanh và mỡ heo chứ không có lòng đỏ trứng muối và các loại thành phần khác như hiện nay. Do thị hiếu của người tiêu dùng mà các lò bánh mới thêm các thành phần hương liệu khác như sầu riêng, khoai môn, lòng đỏ trứng muối...
BÁNH MÈ LÁO:
  Làng Vũng Thơm thuộc xã Phú Tâm, cách thị xã Sóc Trăng (Sóc Trăng) 12km. Nghề làm bánh pía và bánh mè láo ở đây có từ lâu đời, hiện trở thành một đặc sản không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn bay sang tận Mỹ, Pháp, Canađa, Trung Quốc và nhiều nước trên thế giới.
  Nguyên liệu làm bánh mè láo làm bằng bột nếp, khoai môn, mạch nha, đường, mè. Mè láo là loại bánh do người Hoa ỏ Sóc Trăng làm ra. Mè Láo được làm từ khoai môn, gọt vỏ bào mỏng, quết nhuyễn, cán mỏng, sau đó đem phơi nắng khoảng 3 ngày. Cắt miếng khoai môn này thành những lát nhỏ hình chữ nhật lăn vào bột nếp rồi chiên trong chảo dầu sôi. Miếng khoai môn sẽ phồng lên thành hình khối chữ nhật, vớt ra đem trộn vào nước đường đã thắng thành kẹo, rồi lăn vào mè rang chín. Do ruột bên trong tơi xốp nên mè láo rất giòn, có vị ngọt của đường và thơm của mè chín.
  Làng Vũng Thơm có tới gần 20 lò bánh, thu hút trên 400 lao động. Ngày trước, các lò bánh đều làm bằng phương pháp thủ công với lò nướng bằng đất. Năm 1995, anh Âu Mỹ Châu là người đầu tiên cải tiến cách làm và sáng tạo ra dây chuyền sản xuất và máy nướng bánh. Mỗi lò anh sản xuất từ 5.000 - 10.000 cây /ngày (mỗi cây 4 bánh), gấp hàng chục lần so với làm thủ công ngày trước.
  Vào dịp Tết Trung thu, Tết Nguyên đán, làng Vũng Thơm lại nhộn nhịp chuẩn bị hàng cho khách gần xa. Dọc theo Quốc lộ1A, đoạn từ thị xã Sóc Trăng đi An Hiệp dài 10km, có hàng trăm cửa hàng bán bánh pía và bánh mè láo. Tại nhiều kỳ hội chợ, bánh pía và bánh mè láo của các lò sản xuất Vũng Thơm đã được tặng thưởng huy chương vàng và đạt tiêu chuẩn Thàng Việt Nam chất lượng cao. Bánh pía và bánh mè láo Vũng Thơm có vị ngọt mềm, béo, bùi mộc mạc của các sản vật đồng bằng Nam Bộ, mùi thơm của sầu riêng, vị mát của đậu xanh, cộng thêm màu hồng mặn mà của lòng đỏ trứng vịt muối hòa quyện vào nhau thành hương vị rất đặc biệt. Không chỉ có vậy, nghề làm bánh còn giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống và vươn lên khá giả.
BÚN NƯỚC LÈO:
  Bún nước lèo là món ăn rất dân dã mang đậm bản sắc của cộng đồng người Khmer đồng bằng sông Cửu Long. Khi nhắc đến bún nước lèo là phải nói đến Sóc Trăng vì có những bí quyết rất riêng mà khi ăn vào làm ta nhớ mãi hương vị thơm ngon của nó.
  Nước lèo được nấu từ mắm bò hóc với nước mưa pha lẫn nước dừa làm cho hương vị thêm ngọt ngào và một loại gia vị không thể thiếu đó là ngãi bún để làm tăng thêm hương vị đặc trưng của nước lèo. Những miếng thịt cá lóc, thịt heo quay vàng tươi, tôm luộc được đặt phía trên kèm theo các loại rau ghém như: rau muống, bắp chuối, giá, hẹ, rau thơm … kèm thêm một ít nước mắm nhĩ điểm thêm 01 thìa ớt bằm và 01 miếng chanh nữa sẽ làm cho tô bún nước lèo thêm phần đậm đà và hấp dẫn.
TẾT CỔ TRUYỀN CHÔL-CHNAM-THMÂY:
  Đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ hàng năm tổ chức tết cổ truyền Chôl-Chnam-Thmây từ ngày 13 đến 15 tháng 4 dương lịch, nếu năm nhuận thì bắt đầu từ ngày 14, còn gọi là "lễ chịu tuổi". Nhà nào cũng quét dọn trang hoàng lại nhà cửa và bàn thờ Phật, làm bánh tét và mang theo cùng các loại quả đến chùa để cúng dường vào ngày đầu năm mới. Nghi thức Tết cổ truyền Chôl-Chnam-Thmây được nhà sư và Phật tử các chùa Khmer tổ chức vào đầu năm diễn ra trong ba ngày. Dân trong phum sóc đến chùa làm lễ rước Đại lịch (Maha-Sâng-Kran), tham gia đoàn diễu hành đón chào Chư thiên (Têvêđa) năm mới về bảo hộ cho đồng bào Phật tử. Trong 3 ngày Tết, chùa chiền và phum sóc náo nhiệt suốt ngày đêm. Lễ hội Oc-om-bok được tổ chức ở Sóc Trăng, nơi có khoảng 350.000 người Khmer, còn gọi là lễ cúng trăng hay "lễ cốm dẹp", mang ý nghĩa mừng cơm mới sau khi thu hoạch mùa vụ.
  Đêm trước ngày lễ hội, các hoạt động vui chơi, văn nghệ múa hát, thi đấu cờ ốc, bi sắt, thả đèn nước, đèn gió kéo dài trong đêm. Vào ngày 14 - 15 tháng 10 âm lịch, lễ hội Ok-om-bok và đua ghe ngo trên sông Maspero của đồng bào dân tộc Khmer không chỉ thu hút dân vùng sâu ra thị xã mà thực sự hấp dẫn nhiều du khách quốc tế. Đội hình đua ghe ngo có 52 người, toàn đội bơi theo tiếng còi hiệu lệnh nhịp nhàng của người ngồi ở mũi ghe, quyết định thắng bại là do sức mạnh của toàn đội đua và người lèo lái.
TẾT DOLTA KHƠ-ME:
  Dolta hay còn gọi lễ cúng tổ tiên, ông bà. Đây là lễ lớn thứ 2 trong năm đối với đồng bào dân tộc Khơ-me. Bắt đầu từ rằm tháng tám (tính theo lịch người Kinh), người cao tuổi trong các phum, sóc lai rai vào chùa (sáng sớm  cúng dường chư tăng, còn chiều tối tụng kinh cầu phúc) kéo dài cho tới cuối tháng và chính thức vào lễ.
  Lễ Dolta, mọi người vào chùa lễ Phật và cầu kinh chúc phúc, cầu cho tổ tiên phù hộ để làm ăn phát đạt. Ngày chính lễ (cuối tháng tám âm lịch), phật tử các chùa thường tổ chức nấu cơm nếp với đậu xanh, trộn mè vàng và ăn kèm với chuối, trước là cúng tổ tiên, ông bà, rồi cúng dường chư tăng; sau đó con cháu sum họp dùng chung và chiêu đãi du khách đến thăm các vị sư sãi nhân dịp này. Do vậy, vào ngày lễ Dolta sinh hoạt ở các chùa trong phum, sóc rất đông vui, tấp nập người ra vào, nhộn nhịp cả ngày với nhiều trò chơi dân gian, thi đấu bóng chuyền, văn nghệ… cây nhà lá vườn trong khuôn viên chùa. Nhiều hộ khá giả làm bữa cơm tại gia đình để tưởng nhớ ngày tổ tiên qua đời trong một năm.
  Đồng bào dân tộc Khơ-me vùng Bảy Núi theo đạo Phật giáo Nam Tông nên ngôi chùa trở thành “trung tâm văn hóa, sinh hoạt tinh thần” của phum, sóc. Hòa thượng Chau Cắk, sãi cả chùa Mỹ Á nói: “Nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, mấy năm gần đây, đời sống, sinh hoạt của đồng bào tiếp tục được nâng lên, bà con đón lễ Dolta cũng theo tinh thần tiết kiệm, đoàn kết giúp nhau trong cuộc sống và dành nhiều thời gian cho sản xuất”. Nét đẹp này, được đồng bào trong các phum, sóc giữ gìn và phát huy. Thượng tọa Chau Phrốs, sãi cả chùa Thom Mit phấn khởi cho hay, gieo cấy lúa ruộng trên xong lại có lúa vụ 3 nữa nên đồng bào ăn lễ Dolta gọn lắm, không kéo dài ngày như trước, để còn ra đồng chăm sóc lúa và rau màu. “Ai cũng lo cho cái bụng, thủ sẵn để dành, rồi mới tính chuyện chơi sau” – Thượng tọa Chau Phrốs tâm sự.
  Đón lễ cổ truyền Dolta năm nay, đồng bào dân tộc Khơ-me vùng Bảy Núi còn được niềm vui lớn, đó là Đại hội Đảng cấp xã và huyện vừa tổ chức thành công tốt đẹp, chào mừng Đại hội Nông dân giỏi toàn tỉnh lần thứ 14 và Đại hội Đại biểu Đảng bộ An Giang lần thứ IX. Theo ông Trần Văn Đợi, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Trung cho hay, với nhiều chương trình và dự án sản xuất, đời sống và sinh hoạt của đồng bào dân tộc Khơ-me có nhiều tiến bộ. Phong trào văn hóa, văn nghệ và TDTT tiếp tục duy trì, phát huy tích cực trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở phum, sóc. Còn ông Chau Danh, Bí thư Đảng ủy Ô Lâm thông tin, đồng bào Khơ-me nghèo rất phấn khởi vì được cất nhà “Đại đoàn kết” với sự hỗ trợ của Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết An Giang, góp phần quan quan trọng chăm lo cho cuộc sống nông dân, nông thôn miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số và căn cứ kháng chiến cũ.
  Hội Nông dân các xã, thị trấn của 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, đã xét chọn 2 năm 2009-2010 hàng ngàn nông dân giỏi là đồng bào dân tộc Khơ-me. Đây là những nhân tố tích cực, có sức thuyết phục mạnh mẽ đến sản xuất, đời sống và sinh hoạt trong các phum, sóc. Ông Trần Văn Cứng, Phó Chủ tịch Hội Nông dân An Giang cho rằng, khả năng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của đồng bào Khơ-me có nâng lên, hầu hết các mô hình làm ăn đều đạt hiệu quả tốt và có thể sánh vai với nông dân người Kinh. Hội viên, nông dân đồng bào Khơ-me còn tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, như: Câu lạc bộ Nông dân, Câu lạc bộ Nông dân với pháp luật, bảo vệ môi trường phum, sóc…
  Đặc biệt, theo thông lệ hàng năm, đồng bào dân tộc Khơ-me đón lễ cổ truyền Dolta, còn háo hức với lễ hội đua bò Bảy Núi luân phiên tổ chức tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Năm nay, lễ hội sẽ diễn ra vào ngày 5 tháng 10, tại trường đua chùa Tà Miệt dưới (xã Lương Phi, huyện Tri Tôn), với sự tham gia của 70 đôi bò xuất sắc từ những nông dân các huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên và có cả huyện Hòn Đất, Kiên Lương (tỉnh Kiên Giang), đồng thời mời thêm quận Kirivong (tỉnh Tà Keo, Vương quốc Campuchia). Đây là dịp giao lưu, so tài và là cơ hội để đồng bào Khơ-me giới thiệu sản phẩm địa phương với khách du lịch đến Bảy Núi trong ngày lễ Dolta.
SỰ TÍCH LỄ HỘI ĐUA GHE NGO:
  Dân gian kể rằng, đã lâu lắm, cách đây bảy, tám trăm năm về trước, ghe Ngo đã xuất hiện ở đồng bằng này. Lúc đó vùng này còn hoang dại lắm, đất ẩm thấp, cây rậm rạp, có nhiều rắn rết và thú dữ...
Ông Prach – Chhum và Mom – Sun,  nghệ sĩ Chom – Riêng đã từng hát câu hát dân gian nhắc lại một đoạn bài hát rất mộc mạc về nguồn gốc xuất xứ lịch sử ghe Ngo. Tôi xin tạm dịch nôm na:
  “Ngày xưa đến ở nơi đây
Rừng đầy thú dữ rắn bò thi nhau
  Đi lại trên chiếc cây Sao
Con thuyền độc mộc dềnh dàng trên sông...”
  Con rắn bò nhanh và nhanh thật, nhất là trườn đi trên mặt nước. Hình ảnh con rắn trườn đi trên mặt nước phản ảnh gần đúng hệt như chiếc ghe Ngo, và chiếc ghe Ngo được tạo dáng giống như con rắn thật.
  Chiếc ghe làm bằng cây Sao phải tổ chức đi đốn tận miền xa nơi vùng núi cao mới có. Đốn xong dùng voi kéo xuống sông kết thành bè thả theo dòng nước để trôi xuôi về. Các cụ truyền nhau kể lại: hồi đó trên rừng lắm thú dữ, ở dưới sông cá sấu như bánh canh, sấu con bò lên bè gỗ như nhái con. Mỗi lần đi thế nào cũng mất năm bảy mạng cọp bắt, sấu nuốt.
Xuất phát từ hình tượng rắn bò chúng sợ bén mạng thi nhau chạy thoát thân khi người đến xục xạo khai phá đã đập vào mắt người Khmer và tư duy sáng tạo ra chiếc ghe độc mộc này.
  Trải qua những năm tháng lớn lên của lịch sử thiên nhiên, phù sa biển bồi đắp ngày một lớn dần. Nhiều sông ngòi do thiên nhiên tạo ra, đổ nghiên theo chiều mặt bằng, việc đi lại rất khó khăn. Người Khmer đến cư trú vùng này lúc đó chưa ổn định, người ta chưa đủ sức đắp đường đi mà bắc cầu qua lại giao tiếp với nhau, hơn nữa mang tâm lý sợ thú dữ nên cố tạo phương tiện đi lại bằng ghe độc mộc dưới sông, đi có tập thể để đối phó với thú dữ. Từ ghe độc mộc đơn sơ ấy. Sau này do yêu cầu tự vệ và chống chiến tranh giữa các tộc người xung quanh, người Khmer nghĩ đến cách đục đẽo ra “tuk ngo” để cho gọn nhẹ dễ bơi và bơi nhanh hơn. Hình thù ghe Ngo tựa như con rắn mình thon thon thoai thoải về hai phía, đầu uốn cong và thấp hơn đằng sau lái một chút. Ghe Ngo có chiều cong và có cây đóng cặp chặt ở đáy  nối dài từ đầu tới sau lái, trên cong đóng nhiều thanh cây ngang, chiều ngang độ 1,20 m vừa để cho hai người ngồi bơi thoải mái theo từng cặp song song. Ghe Ngo thường có từ 46, 48 tới 50 chỗ cho người ngồi bơi và chỉ huy. Thân ghe người ta sơn bằng màu đỏ với độ dày khoảng 5 cm, và hai bên be trạm trổ hoặc vẽ vẩy rồng, rắn theo mô tiếp Naga. Đầu ghe vẽ các hình con thú, như con chim công, con sư tử, con cọp, con voi... vừa tượng trưng cho vẻ đẹp đồng thời biểu hiện cho sức mạnh của ghe mình.
  Vì ghe thân hình thon thon thắt dài kéo về hai phía, đầu và sau lái đều cong, nên nếu bơi động tác phối hợp không ăn ý nghịp nhàng rất dễ mất thăng bằng và bị lật chìm. Nên trước khi đưa xuống nước, người ta tổ chức tập bơi cho nhuần nhuyễn động tác ở trên cạn, sau đó mới đưa xuống tập bơi dưới nước. Người được chọn để bơi phải là thanh niên trai tráng khỏe mạnh quen bơi và bơi có nghệ thuật. Người bơi đã quan trọng, người ngồi đầu đánh đều đưa nhịp xòe tay ra chỉ huy qua từng nhịp lướt sóng, người đứng giữa đánh cồng thúc giục đưa nhịp động viên và người cầm lái lại càng quan trọng hơn. Người ngồi đầu chỉ huy được chọn từ những người có uy tín và thông tạo về môn đua ghe Ngo. Công dụng ghe Ngo thời ấy được coi như là một môn thể thao quân sự. Lúc có giặc, lúc thời bình ghe Ngo được dùng để đua vui chơi giải trí biểu dương sức sống văn hóa của dân tộc vào ngày lễ Oc – om – bóc vào rằm tháng 10 theo âm lịch Khmer (xê xích ít ngày, ngày rằm tháng 10 âm lịch Việt). Vì âm lịch Khmer trong một năm nhiều tháng, có ngày thiếu và một năm thiếu tới 11 ngày, nên không vào những ngày tháng dương lịch. Nhưng ngày hội đua ghe Ngo có nằm trong các ngày tháng 11 dương lịch. Từ xa xưa hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc đồng bào Khmer tổ chức lễ cúng trăng Oc – Om – boc. Vào đêm ngày rằm này, trăng tròn đẹp, gió bấc thổi nhẹ, thời tiết mát mẻ, lúc này lúa đã no hạt và lốm đốm chín, người ta cắt những bông lúa chín đầu mùa đem về đâm cốm dẹp, tổ chức cúng trăng. Người Khmer có ý niệm về trăng, tôn thờ trăng coi trăng tượng trưng cho niềm ước mơ đẹp nhất và đem đến cho con người cuộc sống no ấm hạnh phúc, nhất là đối với tuổi trẻ. Vào những ngày tháng này họ rủ nhau ra trước sân nhà và đi trên con đường làng ngắm trăng, tắm trăng, đồng thời cũng là dịp con trai gái tâm sự tỏ tình.
  Người Khmer vốn sống bằng nghề trồng lúa nước. Trồng lúa nước ngày xưa rất khó khăn, tai họa thiên nhiên thường xảy ra luôn, có khi trồng xong lúa bị gió mưa, lụt lội cuốn trôi hết, nên việc đấu tranh chinh phục thiên nhiên bằng cách đắp bờ ngăn mặn giữ người nước ngọt, chọn giống lúa để sinh trưởng phù hợp với đất và thời tiết. Từ đó, mùa vụ đầu tiên không bị gió mưa tai họa thiên nhiên hủy hoại, lúa bụi to, trỏ đều, no hạt,  được gặt hái thu hoạch tốt đẹp vào những ngày tháng nói trên. Nên lễ “Óc-om-boc” mang ý nghĩa mừng cơm mới vào những ngày trăng sáng, mưa gió chấm dứt, nước từ từ rút xuống, mở đầu cho một mùa khô ráo sau những ngày tháng lao động vất vả.
  Người ta cúng trăng vào đầu hôm ngày rằm lúc trăng vừa ló dạng. Cách cúng, người ta đem ra trước nhà một cái bàn tròn hoặc vuông tùy ý, trãi phủ lên một tấm vải màu đẹp, chưng lên đó một bình bông thật trang trọng. Sau đó người ta bưng mâm cúng lên đó, gồm đĩa cốm dẹp, chuối chín, dừa tươi vạt vỏ, khoai môn, khoai mì, mía, ... Ông bà gọi con cháu quy tụ lại, trãi chiếu quây quần ngồi xếp bằng về một phía chắp tay vái hướng về mặt trăng . Khi cúng xong, ông hoặc bà nắm một nắm cốm dẹp gọi từng đứa con cháu lên và đút cốm dẹp vào miệng cho từng cháu và hỏi: cháu muốn gì? Có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau muốn có thật nhiều vàng, bạc, châu báu, ngọc ngà, trâu bò, voi, ngựa ... có cháu trả lời : cháu ước mơ kiếp sau có vợ thật đẹp và giàu sang phú quý, một em gái nhỏ nhất trả lời câu hỏi rất ngây thơ: con chỉ mơ có nhiều cốm dẹp ăn hoài ... Sau khi cúng xong, ông bà bưng mâm cúng xuống gọi cả nhà ra ngồi quây quần cùng nhau ăn vui vẻ. Người Khmer gọi lễ này là lễ Óc-om-boc.
  Theo phong tục cổ truyền của dân tộc, để phục vụ ngày vui này, người ta tổ chức thi và chơi các trò chơi dân tộc như ném còn, kéo co, đấu võ, đua thuyền và biểu diễn văn nghệ,... Đặc biệt môn đua ghe Ngo và biểu diễn băn nghệ là hai môn được đồng bào ưa thích nhất. Nói đến Óc-om-boc, người ta bàn tán với nhau rất sôi nổi về ghe Ngo. Để tham gia vào cuộc đua ghe này, các địa phương thi nhau tu sửa, trang trí lại ghe của mình cho thật chắc và đẹp. Có nơi tu sửa xong họ tổ chức tập dượt cả tháng trước. Thanh nhiên nam nữ mua sắm quần áo mới để chuẩn bị đi chơi hội và xem đua ghe Ngo.
Ngày xưa có lẽ cách đây hàng trăm năm về trước, vào ngày lễ Óc-om-bóc hàng năm, người Khmer thường tổ chức đua ghe ở Peam-kên-thô, tức là Vàm Tho, thuộc huyện Mỹ Xuyên ngày nay. Ở đó, ghe Ngo của các nơi từ vùng Bạc Liêu lên, các vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện, vì ở đó có một đoạn sông thẳng, dòng nước chảy đều, trên bờ có chợ búa, dân chúng cất nhà ở đông vui. Những người đến xem đua ghe lúc đó thường là đi bằng ghe “Ca hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Ca chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc hai bên bờ, họ đem theo nồi nêu, bếp củi tự nấu ăn. Sau này, khi Tây vào, chúng bắt phải dời điểm đua từ Vàm Tho về sông Ompuyea, tức là sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên bây giờ.
Trong thời kỳ Mỹ Ngụy, điểm đua ghe Ngo hàng năm được đời từ Nhu Gia về đua ở Kinh Xáng – Thị xã Sóc Trăng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, điểm đua ghe Ngo được đưa trở lại ở Nhu Gia và tổ chức chu đáo hơn. Mấy năm đầu cuộc đua ghe Ngo vào ngày “Óc-Om-bóc” được tổ chức ở Nhu Gia cũng rất vui, vui gấp trăm lần hơn so với các chế độ trước đây, nhưng vẫn chưa thỏa mãn đáp ứng theo nguyện vọng của khán giả. Để biểu hiện sự trân trọng và đáp ứng theo yêu cầu của quần chúng, và để tạo điều kiện  cho mọi người đến xem dễ dàng, đông vui, ăn ở thuận lợi và thoải mái hơn, cuộc đua ghe Ngo lại được đưa trở lại tổ chức tại Sóc Trăng. Từ đó cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch dân tộc cuộc đua ghe Ngo lại tái diễn ở Kinh Xáng thị xã Sóc Trăng (tức TP. Sóc Trăng ngày nay). Ở trung tâm thị xã Sóc Trăng vào những ngày ấy – trước ngày đua ghe một đêm, người từ khắp nơi đổ về như nước đổ về nguồn, và đêm hôm ấy, người đông chật không còn đường đi nữa. Các loại xe phải dừng lăn bánh. Đêm đó được gọi là một đêm không ngủ. Ở dưới sông ánh đèn rực sáng như hội hoa đăng. Từng cụm ghe Ngo tập kết là từng cụm hoa sáng.
“Tiếng trống Chhay dăm đối đáp nhau
Tiếng sáo đối lại xé bầu trời
Nhạc romvoong đua đưa nụ cười
Nam nữ múa hát, từng đôi mặn mà”
  Và các đoàn dù kê cũng say sưa diễn suốt đêm. Mãn lớp này chuyển sang lớp khác. Khán giả cứ lũ lượt kéo vào rồi lại kéo ra như thay ca nhau vậy. Đường Giữa là đường mạch thị xã chứ đừng hòng ai mà qua nổi:
“Ôi đẹp sao những đôi trẻ,
Kề vai nhau trổ nụ cười.”
  Sáng hôm sau mới thật là một ngày sôi nổi. Các ghe đua bắt đầu vào chung cuộc đọ sức thi tài. Hai bên bờ sông kéo dài trên cây số, hàng trăm người đứng chật ních không một khoảng trống, biển người như sóng lượn rực rỡ màu sắc như một vườn hoa.
  Rất đáng vinh dự tự hào, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ năm 1990, Đảng – Nhà Nước đã tổ chức Hội văn hóa thể thao các dân tộc, ghe Ngo cũng được đưa lên đua ở tại Bến Nhà Rồng – sông Bạch Đằng – TP.HCM để giới thiệu với khán giả Thành Phố – khán giả cả nước đã gây tiếng vang lớn cho môn thể thao dân tộc này.
  Có những nơi do địa lý thiên nhiên bất lợi, ít có con sông và thuận tiện, đồng bào không sắm ghe Ngo, nhưng họ vẫn giữ truyền thống phong tục ngày hội đua ghe Ngo và lễ Óc-om-bóc của dân tộc. Họ tổ chức đua ghe theo quy mô nhỏ bằng chiếc ghe con hoặc bằng bơi giả trên cạn, bằng cách ngồi hoặc đứng xếp hình theo hình tượng ghe Ngo, trên mặt nước lấy điểm chuẩn chấm bằng nhịp bước, động tác bơi tay đưa dầm lên xuống, kỹ thuật bơi đều, khỏe mạnh, nhịp nhàng và đẹp… cũng vui, hấp dẫn và sôi nổi. Hình tượng ấy, nay đã được cách điệu đưa lên sân khấu nghệ thuật, bổ sung cho nền múa dân tộc Khmer thêm phong phú và đa dạng.
  Rõ ràng cuộc đua ghe Ngo hàng năm quy tụ ở Sóc Trăng đã trở thành ngày hội chung của ba dân tộc Khmer-Việt-Hoa, làm cho mối quan hệ cộng đồng các dân tộc ở khu vực ngày càng gần gũi nhau về tâm lý, tình cảm, đoàn kết gắn bó nhu hơn trong lao động sản xuất, xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ cuộc sống và xây dựng hạnh phúc chung của cộng đồng
 

Các tour du lịch khác nổi bật